{"help": "https://data.opendevelopmentmekong.net/api/3/action/help_show?name=datastore_search", "success": true, "result": {"include_total": true, "resource_id": "c2d72eb9-66b6-4502-b902-bf2a94666ec5", "fields": [{"type": "int", "id": "_id"}, {"type": "numeric", "id": "#"}, {"type": "text", "id": "T\u00ean di s\u1ea3n v\u0103n ho\u00e1 phi v\u1eadt th\u1ec3 qu\u1ed1c gia"}, {"type": "text", "id": "Quy\u1ebft \u0111\u1ecbnh ghi nh\u1eadn"}, {"type": "text", "id": "N\u0103m \u0111\u01b0\u1ee3c ghi nh\u1eadn"}, {"type": "text", "id": "Lo\u1ea1i h\u00ecnh di s\u1ea3n"}, {"type": "text", "id": "D\u00e2n t\u1ed9c"}, {"type": "text", "id": "\u0110\u1ecba \u0111i\u1ec3m"}, {"type": "text", "id": "M\u00f4 t\u1ea3"}, {"type": "text", "id": "Ngu\u1ed3n"}], "records_format": "objects", "total_was_estimated": false, "records": [{"_id":1,"#":1,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Chữ Nôm của người Dao","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012; 3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Tiếng nói, chữ viết","Dân tộc":"Dao","Địa điểm":"Bắc Kạn, Lào Cai","Mô tả":"Trong văn hóa của người Dao có sự tiếp thu, giao thoa văn hóa với các cộng đồng tộc người lân cận địa bàn cư trú, mà một trong những biểu hiện nổi bật là chữ viết của người Dao - một số nhà nghiên cứu gọi là chữ “Nôm Dao”. Về tổng quan, chữ “Nôm Dao” là một hệ thống ký tự chữ Hán được phiên âm ra tiếng Dao. Cộng đồng người Dao, cho đến nay, vẫn còn lưu giữ một quyển sách dùng để dạy những người bắt đầu học chữ người Dao, bằng tiếng Dao - Cuốn “Tam tự kinh” - sách học vỡ lòng của hệ thống giáo dục Nho giáo thời xưa ở Việt Nam. Đây là những chữ Hán dạng phồn thể, được giữ nguyên tự dạng. Tầng lớp trí thức người Dao, qua các thế hệ, đã Dao hóa cách phát âm các chữ Hán, cho gần gũi với tiếng Dao và vẫn giữ nguyên gốc nghĩa của các từ trong sách này.  Hệ thống chữ viết này được các bậc trí thức người Dao trước đây sử dụng trong mọi văn tự của người Dao, từ sách vở học tập đến việc ghi chép ngày, tháng, thơ, văn ... Hầu hết, gia đình người Dao có người cao tuổi khoảng 60 - 70 tuổi trở lên đều còn giữ những cuốn sách cổ do ông cha để lại. Chữ Nôm Dao là một di sản văn hóa quý báu, gắn liền với các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Dao. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/chu-viet-cua-nguoi-dao-3147"},{"_id":2,"#":2,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Chữ Nôm của người Tày","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Tiếng nói, chữ viết","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Bắc Kạn","Mô tả":"Cư dân Tày tại Bắc Kạn từ lâu đời đã biết sử dụng hệ thống ký tự chữ Hán để ghi âm tiếng Tày và được các nhà nghiên cứu gọi là chữ Nôm Tày. Về loại hình, chữ Nôm Tày là chữ khối vuông, thuộc thể loại chữ tượng hình, kế tục và phát triển từ chữ Hán của dân tộc Hán ở phương Bắc. Là thể chữ tượng hình, chữ khối vuông nên trong cách viết, chữ Nôm Tày cũng phải tuân thủ trình tự, cách thức viết chữ của chữ Hán đó là: Trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau; trái trước, phải sau; viết từ trái sang phải, từ trên xuống dưới (theo hàng dọc); sử dụng bộ thủ chữ Hán để nhận biết ngữ nghĩa, mặt chữ. Chữ Nôm Tày được viết trên giấy bản do người dân địa phương tự sản xuất (tiếng Tày gọi là chỉa sla), khi viết dùng bút lông thấm mực tàu tay đưa đều ngọn bút trên giấy viết tạo thành nét thanh, nét đậm. Muốn viết chữ đẹp phải khổ luyện sao cho tay viết vừa mềm mại, vừa rắn rỏi; nét chữ lúc thanh, lúc đậm, chữ viết vuông vắn, cân xứng, đều đặn. Người Tày quan niệm đây là chữ của “thánh hiền” nên khi viết phải cung kính, tư thế ngay ngắn, sách vở để trong rương, trong hòm như những vật quý trong gia đình. Chữ Nôm Tày được dùng để ghi chép nhiều nhất trong sách cúng của các thầy Tào, ngoài ra còn được dùng để ghi chép các truyện thơ của người Tày, sách hát lượn cọi.","Nguồn":"https://chunom.net/Bao-ton-chu-Nom-cua-dan-toc-Tay-tinh-Bac-Kan-27.html"},{"_id":3,"#":3,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Chữ viết cổ của người Thái","Quyết định ghi nhận":"829/QĐ - BVHTTDL ngày 10/3/2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tiếng nói, chữ viết","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Sơn La","Mô tả":"Người Thái có một nền văn hóa đặc sắc, đặc biệt, họ còn có chữ viết nên lưu giữ được nhiều di sản văn hóa của cha ông. Hệ thống chữ viết cổ của người Thái từ xưa đã được ghi lại trên giấy dó, giấy dướng với nội dung rất phong phú. Chữ viết cổ của người Thái có tự dạng Sanscrit, vốn được vay mượn từ Ấn Độ và được sáng tạo thành bộ chữ riêng. Tiếng Thái là ngôn ngữ đơn tiết, có thanh điệu. Về mặt phân loại thân tộc ngôn ngữ, tiếng Thái thuộc ngữ hệ Tai – Kadai, nhánh Tai, tiểu nhánh Tai Tây Nam. Người Thái là hậu duệ của người Tai cổ, chủ nhân của nền văn minh lúa nước đặc trưng của vùng Đông Nam Á cổ.\nChữ Thái ở Việt Nam là loại chữ cổ và hiện nay vẫn giữ gần như nguyên vẹn từ tổ tiên người Thái để lại. Người Thái ở Việt Nam sống rải rác tại nhiều địa phương, nên chữ viết cũng dùng trong phạm vi từng địa phương, chưa được thống nhất và chưa được cải tiến. Chữ Thái cổ hiện nay do những người già, người am hiểu chữ Thái nắm giữ và bảo lưu trong các cuốn sách chữ Thái cổ. Có thể phân loại sách chữ Thái cổ thành các loại sau: sách viết về quan niệm trời đất, sinh vật và sự sống (thế giới quan của con người); truyện kể (quám tô); sách hát (quám khắp); sách dạy người (quám bóc mạy, son kốn); sách giáo dục trẻ em; sách dạy lời giao tiếp (quám cáo nai); sách cúng tế (quám cáo tăm); sách cúng của thày mo (quám một); sách về tục lệ (hịt khỏng); sách bói toán (quám dượng mó); sách bùa chài ma thuật (măn muốn, bít năng, băng phắn); các loại sách hướng dẫn. Mỗi loại sách lại có nhiều chủ đề khác nhau.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/chu-viet-co-cua-nguoi-thai-1321"},{"_id":4,"#":4,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Dân ca Cao Lan/ Hát Sình ca của người Cao Lan","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012; 3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015","Năm được ghi nhận":"2012; 2015","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Cao Lan - Sán Chay","Địa điểm":"Xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; Tỉnh Tuyên Quang","Mô tả":"Dân ca Cao Lan hay Sịnh ca Cao Lan thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian của người Cao Lan ở xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Tuyên Quang. Từ bao đời nay, Dân ca Cao Lan được lưu truyền trong cộng đồng dân tộc Cao Lan như một sinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu. Từ người già đến thanh niên, trẻ nhỏ, ai cũng say mê Sịnh ca, bởi nó không chỉ là những bài hát giao duyên của trai gái, mà còn là những bài hát ca ngợi sản xuất, hát “phụng” Thổ công và Thần Nông, hát mừng nhà mới, hát ru con, hát đố, hát ghẹo… Qua những làn điệu dân ca này, người Cao Lan có thể gửi gắm những tâm tư, tình cảm với nhau, những ước mơ, nguyện vọng của người lao động với thiên nhiên và thần linh… Mỗi khi có dịp gặp nhau, người Cao Lan hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương, làng bản. Những lúc lao động vất vả, mệt nhọc, họ thường cất lên tiếng hát ca ngợi tinh thần lao động, cầu chúc những vụ mùa tươi tốt. Khi trai gái làm quen hay bén duyên nhau, họ hát những làn điệu dân ca để ngỏ ý giao duyên và hẹn ước…","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/dan-ca-cao-lan-3159"},{"_id":5,"#":5,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Dân ca của người Bố Y","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Bố Y","Địa điểm":"Xã Quyết Tiến, Quản Bạ, Hà Giang","Mô tả":"Dân ca của người Bố Y ở xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần trong đời sống của cộng đồng, được thể hiện qua lời ca, câu hát khi đi làm nương, làm nhà, đi chợ, lễ tết, hội hè, khi khách đến nhà, nam nữ hát giao duyên, trong đám cưới, trong nghi lễ…Dân ca Bố Y có lịch sử phát triển lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứng tỏ sức sống lâu bền và có sức hấp dẫn với người Bố Y \nĐiệu hát của người Bố Y không có nhiều âm điệu, tiết tấu, tất cả đều được hát theo một nhịp đều đều. Bài hát có câu ngắn, câu dài, cứ một câu gieo vần trắc, một câu gieo vần bằng ở cuối câu. Trong những dịp đám cưới, hội thi hay giao lưu văn nghệ giữa các dân tộc, khi đã ngà men rượu, thì khi ấy mới bắt đầu cất tiếng hát. Xưa kia, khi chuẩn bị đón giao thừa, gia đình ngồi quây quần bên nhau, người già sẽ dạy hát cho các con cháu. Theo các cụ, tuy điệu hát không thay đổi nhiều, nhưng lối hát ngày nay nhẹ nhàng hơn, để dễ cho người kéo giọng. Dựa vào nội dung của các bài dân ca Bố Y, có thể phân loại thành hai nhóm sau: Hát trong lễ hội, lễ cưới gồm: hát đối đáp trong đám cưới, hát trong hội vui, hát mừng thọ; Hát trong sinh hoạt gồm: hát khi làm nhà mới, hát giao duyên.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/dan-ca-cua-nguoi-bo-y-3138"},{"_id":6,"#":6,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Dân ca Sán Chí","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Sán Chí","Địa điểm":"Xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang","Mô tả":"Dân ca Sán Chí (“Cnắng cọô”) là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian có lịch sử lâu đời của người Sán Chí ở xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Đây là lối hát đối đáp nam nữ gần giống như hát ví, hát trống quân, hát quan họ của người Kinh và các làn điệu sli, lượn của người Tày, Nùng, sịnh ca của người Cao Lan, mà lời ca thường là thể thơ \"thất ngôn tứ tuyệt\". \nDân ca Sán Chí thường được trình diễn dưới nhiều hình thức, bối cảnh và không gian khác nhau, tiêu biểu là: hát ban ngày, hát ban đêm, hát đám cưới, hát đổi danh, hát lục giáp (bói toán). Dân ca Sán Chí không chỉ phổ biến trong thanh niên nam nữ mà cả lớp trung niên và người già cũng rất say mê hát, bởi nó là phương tiện gửi gắm tâm tư, tình cảm, ước vọng của những người Sán Chí. Người Sán Chí mỗi khi có dịp gặp nhau lại hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp của quê hương, làng bản, những cảnh sinh hoạt, sản xuất trong bốn mùa, qua đó ngỏ ý giao duyên, kết tình. Bên cạnh đó, nhiều bài hát còn nói về sự kính trọng người già, công lao của cha mẹ, công đức của người có công đối với làng bản và đôi khi là những bài hát trêu đùa gây cười hoặc đả phá những thói hư tật xấu,..","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/dan-ca-san-chi-1040"},{"_id":7,"#":7,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hạn Khuống của người Thái","Quyết định ghi nhận":"217/QĐ - BVHTTDL Ngày 23/1/2017","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái","Mô tả":"Sinh hoạt Hạn Khuống là một lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc Thái vùng Nghĩa Lộ - Mường Lò đã có từ rất lâu đời và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Hạn Khuống có nghĩa là một cái sàn bằng tre, nứa dựng lên ở sân đất ngoài trời. “Hạn Khuống” còn gọi là Sàn hoa Hạn Khuống - sân chơi dành riêng cho nam thanh, nữ tú chưa lập gia đình. Trong mùa xuân, đặc biệt là ngày lễ tết, các cô gái, chàng trai Thái tham gia hội Hạn Khuống với mong muốn tìm được một người bạn gái để xây dựng gia đình. Ở Hạn Khuống, lối hát giao duyên là lối hát chủ đạo. Các chàng trai người Thái phải hát khắp đối đáp với các cô gái cho đến khi được họ đồng ý cho lên sàn Hạn Khuống. Các cô gái đáp lại với những câu khắp từ chối chưa dám hẹn hò, sợ chàng trai đã có vợ, đã có người yêu. Họ cứ hát như vậy cho đến khi người con trai khẳng định rằng mình chưa có vợ và chiếm được lòng tin cho người con gái thì người con gái mới thả thang cho người con trai lên sàn Hạn Khuống. Khi được lên sàn, các chàng trai bắt đầu tìm đến cô gái mình thích và mong muốn được kết duyên. Họ hát đối đáp với nhau bày tỏ tình cảm.\n\n","Nguồn":"https://dantocmiennui.vn/han-khuong-cua-nguoi-thai-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia/165388.html"},{"_id":8,"#":8,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hát Páo Dung/Pả Dung của người Dao","Quyết định ghi nhận":"3820/QĐ-BVHTTDL ngày 31/10/2013; 4069/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2018","Năm được ghi nhận":"2013;2018","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Dao","Địa điểm":"Tuyên Quang, Thái Nguyên","Mô tả":"Pả Dung hay Páo Dung của người Dao có nghĩa là ca hát. Pả Dung là hình thức sinh hoạt văn nghệ phổ biến, có thể hát vào bất cứ thời gian nào, lời ca chủ yếu hình thành và tồn tại dưới dạng cấu trúc thơ, thể thơ thất ngôn. Giai điệu cơ bản giống nhau, nhưng với mỗi làn điệu khác nhau lại được diễn xuất với giọng điệu, âm hưởng khác nhau để trở nên mượt mà, mềm mại, êm ái, tha thiết hay khoẻ khoắn, hùng tráng… Nội dung của lời hát rất phong phú và hấp dẫn, từ những hiện tượng tự nhiên: mây, mưa, trăng, gió, cỏ cây, núi đồi đến các sự kiện lịch sử, xã hội, câu đố, lời chào… nói lên tâm trạng và nguyện vọng của con người. Pả Dung được chia thành nhiều thể loại: hát trong sinh hoạt (hát ru, hát giao duyên, hát đối đáp nam nữ, hát than...); hát trong nghi lễ (hát trong lễ cấp sắc, tết nhảy, lễ cưới, đám tang, cúng đầy tháng...). Pả Dung truyền khẩu tự nhiên trong cộng đồng và được ghi chép lại trong các sách nghi lễ. Hiện nay, bên cạnh các bài Pả Dung truyền thống có thêm sáng tác lời mới dựa trên các làn điệu truyền thống. Pả Dung có sức sống mãnh liệt, không thể tách rời trong quá trình hình thành, phát triển và phản ánh hiện thực đời sống xã hội của cộng đồng người Dao trong các giai đoạn lịch sử. Thông qua các làn điệu Pả Dung, người Dao gửi gắm các cung bậc tình cảm của mình, là cầu nối không thể thiếu trong mọi cuộc giao duyên. Lời ca Pả Dung là sự đúc kết những mong ước tốt đẹp của người Dao về mùa vụ, thời tiết, đồng thời, ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, làng bản, con người, tình yêu đôi lứa, răn dạy cách sống, lối sống… góp phần cố kết, san sẻ tâm tình, yêu thương trong cộng đồng.\n","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/pa-dung-cua-nguoi-dao-3134"},{"_id":9,"#":9,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hát sấng cọ (Hát ví Lưu Tam) của người Sán Chay","Quyết định ghi nhận":"246/QĐ-BVHTTDL ngày 19/01/2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Sán Chay","Địa điểm":"Phú Lương, Thái Nguyên","Mô tả":"Hát Sấng Cọ là thể loại diễn xướng đặc sắc được huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, được các thế hệ người Sán Chay ở Phú Lương lưu giữ và bảo tồn bằng hình thức truyền miệng và truyền dạy trực tiếp nhưng cho đến nay và được duy trì trong sinh hoạt tinh thần của đồng bào. Lời hát mộc mạc có tính giáo dục cao. Không gian diễn xướng thể hiện sự hòa đồng với tự nhiên, thể hiện đậm nét về phong tục, tập quán rất riêng của người Sán Chay ở Phú Lương, là tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử tộc người. Hát Sấng Cọ có các loại hình chính như: hát nghi lễ, hát ví mừng, hát giao duyên.","Nguồn":"http://phuluong.thainguyen.gov.vn/gioi-thieu/-/asset_publisher/ViBvx3Jjw3M7/content/di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-hat-sang-co-vi-luu-tam-cua-nguoi-san-chay-o-huyen-phu-luo-1?inheritRedirect=false"},{"_id":10,"#":10,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hát Sli của người Nùng","Quyết định ghi nhận":"2966/QĐ-BVHTTDL ngày 27/8/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Nùng","Địa điểm":"Lạng Sơn","Mô tả":"Sli nghĩa là “thơ”, một làn điệu dân ca trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Nùng ở Lạng Sơn. Hát Sli (vả Sli) gắn liền với truyền thuyết nàng tiên mở hội thi kén chồng với ba chàng trai họ Chương, họ Sình và họ Lý bằng việc hát đối đáp các làn điệu Sli. Mỗi nhánh Nùng khác nhau có làn điệu sli khác nhau, như: Nùng Inh có Sli Nùng Inh, Nùng Phàn SLình có Sli Sloong hào, Nùng Cháo có Sli Sình làng, Nùng Giang có Sli Giang. Hát sli là hình thức hát thơ (chủ yếu là truyện thơ), được biểu diễn dưới dạng đối đáp nam nữ, thường do một hoặc một vài đôi trai gái thể hiện trong các ngày hội, ngày chợ, ngày cưới, ngày vào nhà mới... Cuộc hát bắt đầu khi có người lĩnh xướng, giọng phải vang, trong và có khả năng ứng đối khéo léo, nhanh nhạy. Khi bên này vừa ngừng tiếng Sli (hỏi) thì bên kia cũng phải có người cất lời Sli để đáp lại với lối hát bè, hòa thanh giọng cao, giọng thấp, không có nhạc đệm, không có vũ đạo kèm theo, khi hát người hát tự phối bè với nhau, giao lưu, trình diễn theo một chủ đề, cốt truyện nhất định do người hát tự biên tự diễn thể hiện qua nét mặt, qua một vài cử chỉ, điệu bộ của tay để diễn tả nội dung khi hát. Thông thường, Sli có 3 lối hát cơ bản là: Hát nói (đọc thơ); Xướng Sli (ngâm thơ); Dằm sli  hoặc nhằm sli (lên giọng hát). Hát Sli là phương tiện giao tiếp trên mọi phương diện cuộc sống, hiện hữu, gắn bó với cuộc sống người Nùng: xe duyên, chúc phúc, giãi bày... Hát sli thể hiện tính xã hội và nhân văn trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên, xã hội. Lời hát sli góp phần làm cho cuộc sống của con người thêm hồn nhiên, tươi vui, phấn khởi và góp phần xây dựng đời sống tinh thần nhân dân thêm phong phú, đa dạng.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/hat-sli-cua-nguoi-nung-3117"},{"_id":11,"#":11,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hát Soọng cô của người Sán Dìu","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015; 3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015; 4069/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2018","Năm được ghi nhận":"2015;2018","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Sán Dìu","Địa điểm":"Xã Sơn Nam, xã Thiện Kế, xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang; Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên;  Huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên và thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc","Mô tả":"“Soọng cô” tiếng Sán Dìu nghĩa là ca hát đối đáp, đặt lời theo thể thất ngôn tứ tuyệt, được ghi chép bằng chữ Hán cổ và lưu truyền trong dân gian bằng hình thức truyền khẩu. Người Sán Dìu ít hát Soọng cô trong lao động sản xuất mà chủ yếu hát vào lúc nông nhàn, giao lưu nam nữ giữa các làng. Họ thường hát khi quây quần bên bếp lửa vì họ quan niệm, hát bên bếp lửa sẽ được thần bếp (Chạo Am) phù trợ cho gia đình làm ăn may mắn, mùa màng bội thu. Chủ đề các bài Soọng cô gắn với các sinh hoạt hàng ngày: Hát khi có khách đến nhà, Hát làm quen, Hát giao duyên, Hát tiễn. Soọng cô là tiếng nói của người lao động nên ngôn ngữ ca từ mộc mạc, dân dã, thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân. Soọng cô cũng mang đậm phong cách dân ca qua cách sử dụng ngôn ngữ mang tính ước lệ, ẩn dụ với lối so sánh ví von phổ biến. Tuy Soọng cô chỉ có một làn điệu nhưng nội dung lời ca có 3 phần rõ rệt, đó là gọi, kể và đáp. Phần kể được thể hiện nhiều hơn so với phần gọi và phần đáp, với nhiều nội dung khác nhau, như để giãi bày, thể hiện tâm trạng khát vọng để đạt được yêu cầu ước nguyện, nỗi lòng người hát. Nhịp trong hát Soọng cô ổn định về trường độ, thường sử dụng nhịp 2/4, 4/4, đôi khi nhịp tự do với âm vực không quá lớn, quãng âm luôn kế tiếp nhau đều đều, ít lên bổng xuống trầm đột ngột, ít đột biến luyến láy. Đây chính là đặc trưng vốn có để phân biệt Soọng cô với các loại dân ca của các dân tộc khác.Do tính chất truyền khẩu, đối đáp ứng tác nên số lượng bài bản Soọng cô rất phong phú và được các nghệ nhân cùng học trò ở các câu lạc bộ thường xuyên trình diễn, truyền dạy. Hát Soọng cô là sinh hoạt văn hóa cộng đồng có ý nghĩa, mang lại niềm vui và hăng say trong lao động sản xuất, tạo nên tình cảm gắn bó với quê hương, làng bản và đồng bào người Sán Dìu.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/hat-soong-co-cua-nguoi-san-diu-1224"},{"_id":12,"#":12,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hơmon (Sử thi) của người Ba Na ","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL Ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Ngữ văn dân gian","Dân tộc":"Ba Na","Địa điểm":"Huyện Đăk Đoa, huyện Đăk Pơ, huyện Kbang, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai","Mô tả":"Sử thi Ba Na (người bản tộc gọi là hơmon) ra đời và tồn tại như một mắt xích quan trọng trong cuộc sống. Hơmon mang dấu vết của xã hội nguyên thủy, nặng màu sắc tín ngưỡng vạn vật hữu linh, là sợi dây kết nối giữa thế giới con người và tổ tiên, quá khứ với hiện tại, giữa thế giới hữu hình và vô hình với quan niệm: đó là hai nửa của một cộng đồng làng. Hơmon gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại của buôn làng Tây Nguyên nói chung, người Ba Na nói riêng như Diông, Dư, Dăm Noi…Nội dung cơ bản xuyên suốt trong mỗi tác phẩm hơmon bao gồm ba sự kiện của người anh hùng: lấy vợ, lao động và đánh giặc (nhiệm vụ trung tâm). Hơmon của người Ba Na thường được hát kể vào ban đêm, nghệ nhân có thể hát nằm hoặc hát ngồi. Người hát kể sử thi là những người có sức khỏe và giọng hát tốt, vì họ thường phải diễn xướng nhiều giờ liền mỗi lần, nhất là khi câu chuyện kéo dài nhiều ngày/đêm. Người kể đóng nhiều vai, phân câu, phân đoạn, đặt chỗ lấy hơi, chọn nơi thêm luyến láy, từ phụ, hư từ làm cho lời và giọng kể sinh động. Giọng, điệu, lời, cách phân ngắt cấu trúc, cách sử dụng ngữ điệu, ngữ khí, sắc thái là những phương tiện cơ bản của diễn xướng mà nghệ nhân hơmon cần có khi diễn tả vẻ hoành tráng, hào hùng của nhân vật và nội dung sử thi. Những yếu tố này đều mang đặc trưng của nghệ thuật diễn xướng âm nhạc kết hợp với ngôn từ truyền miệng. Bằng nghệ thuật hát ngâm (những đoạn văn vần) và hát nói (những đoạn văn xuôi), các nghệ nhân dân gian có thể kể những câu chuyện dài, nhiều nhân vật, nhiều sự kiện đan xen. Qua đó, người nghe nhận biết được sự ra đời của trời đất, của con người, tâm linh tín ngưỡng, sự hình thành phát triển xã hội, mối quan hệ trong cộng đồng, phong tục, tập quán được trình bày rất cuốn hút, kết cấu chặt chẽ, có chương, có đoạn, có mở và có kết. Mọi người ngồi thành từng nhóm quanh những đống lửa lắng nghe diễn biến của sử thi, từ sự kiện này sang sự kiện khác, cùng hòa nhập với mạch kể của sử thi.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/homon-su-thi-cua-nguoi-ba-na-o-tinh-gia-lai-1169"},{"_id":13,"#":13,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Hơmon (Sử thi) của người Ba Na - Rơ Ngao","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL Ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Ngữ văn dân gian","Dân tộc":"Ba Na - Rơ Ngao","Địa điểm":"Kon Tum","Mô tả":"Hình thức hát kể sử thi (hơmon) của người Ba Na - Rơ Ngao được diễn xướng rất thoải mái, tự nhiên trong những sinh hoạt thường ngày. Các tác phẩm hát kể sử thi được kể bằng văn xuôi xen lẫn những đoạn hát kể bằng văn vần với phong cách ngôn từ hồn nhiên, chất phác. Chủ thể của di sản văn hoá hát kể sử thi là những người trong cộng đồng dân cư, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hành gồm các ông hay bà có uy tín trong làng biết nhiều đến các phong tục tập quán, lịch sử buôn làng cũng như nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Những người có tài năng đặc biệt không hề học qua một trường lớp nào mà qua việc nghe kể lại từ thế hệ trước hay các phương tiện thông tin đại chúng mà có thể bảo tồn và lưu truyền từ nhiều đời để cho xã hội tương lai. Các nghệ nhân biết hát kể sử thi của dân tộc Ba Na - Rơ Ngao chủ yếu tập trung ở huyện Đăk Hà, huyện Sa Thầy và thành phố Kon Tum, mà đại diện tiêu biểu nhất là cộng đồng người Ba Na - Rơ Ngao ở xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy.","Nguồn":"http://m.baokontum.com.vn/van-hoa-the-thao-du-lich/trao-bang-cong-nhan-su-thi-cua-nguoi-ba-na-ro-ngao-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-661.html"},{"_id":14,"#":14,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Kéo co của người Tày, người Giáy ","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Tày, Giáy","Địa điểm":"Tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Trong các trò dân gian, kéo co là một trong những trò mang tính nghi lễ, gắn với tín ngưỡng cầu mùa, cầu sinh sôi, phát triển và không thể thiếu trong lễ hội Xuống đồng (thường được tổ chức vào đầu xuân) của người Tày, người Giáy ở Lào Cai. Trong lễ hội Xuống đồng, trò kéo co được tổ chức trên một cánh đồng bằng phẳng, nằm ở trung tâm của làng hoặc ở vị trí thuận lợi, có nhiều đường qua lại và phía dưới thường có con suối chảy qua. Theo quan niệm truyền thống của người Tày, người Giáy, những khu vực có địa hình cao luôn mang tính dương “giàng”, khu vực có địa hình thấp mang tính âm “din”, bên trái là dương, bên phải là âm,...Thời gian tổ chức kéo co thường diễn ra vào buổi sáng, mang tính dương. Đội hình tham gia kéo co cũng được sắp xếp sao cho âm dương hòa hợp - Đội nam luôn ở phía Tây, còn nữ ở phía Đông. Hướng Đông là hướng mặt trời mọc, với ánh sáng mát dịu, tượng trưng cho sự tươi sáng, trong lành, sinh sôi, phát triển nên thường được người Tày, người Giáy rất coi trọng khi làm các việc lớn trong đời. Chọn dây để kéo co đối với người Tày, người Giáy là công việc quan trọng và phải tuân thủ một số kiêng kỵ nhất định. Họ thường dùng dây song (mây) hoặc dây “má me”. Cả hai loại cây này đều có nhiều hoa, nhiều quả và tượng trưng cho một con rồng thiêng “pẻng luông”, mang sức mạnh dẻo dai,…","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/keo-co-cua-nguoi-tay,-nguoi-giay-o-lao-cai-1107"},{"_id":15,"#":15,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Kéo co của người Thái","Quyết định ghi nhận":"3465/QĐ-BVHTTDL Ngày 13/10/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Tỉnh Lai Châu","Mô tả":"Kéo co được tổ chức phổ biến trong Tết tháng bảy hoặc Lễ hội “Sên bản, Sên Mường”, Lễ hội Nàng Han…Sau khi thực hành các nghi lễ tung còn, thầy cúng hô các trai tráng kéo dây song mây về đặt trước ban thờ theo, phần gốc sợi dây đặt quay về hướng Tây, ngọn về phía Đông. Còn nếu bãi tổ chức gần suối thì phần gốc ở phía cuối suối, ngọn quay về đầu suối với mong muốn năm đó làng sẽ gặp nhiều may mắn. Ở giữa sợi dây kéo, ban tổ chức buộc một dải vải đỏ với ý nghĩa làm mốc đánh dấu khi thi đấu, ngoài ra dây vải đỏ còn mang ý nghĩa tượng trưng cho mọi việc được may mắn, thuận lợi, lúc nào cũng rực rỡ, thành công. Làm lễ xong, chọn ra hai đôi nam nữ gồm có 4 người là những người có uy tín, địa vị trong làng tham gia kéo trước với ý nghĩa cầu cho bản mường bước sang năm mới được may mắn, thuận lợi. Khi kéo, bốn người chia làm hai bên, một bên nam, một bên nữ, mỗi bên bốn người. Nam giới đứng ở phía gốc, nữ giới đứng bên phía ngọn dây. Còn những người khác chưa được tham gia thì đứng ngoài cổ vũ. Thầy mo là người trọng tài để phân xử thắng thua giữa hai đội. Sau khi thầy mo ra hiệu, đội trống, chiêng đánh liên hồi, bên nam sẽ kéo trước, nữ kéo sau, hai bên kéo giằng co nhau chưa phân định thắng thua ngay. Mặc dù đội bên nam khỏe hơn nhưng cũng không được kéo thắng ngay mà hai đội cứ kéo giằng co để mọi người ở ngoài hò reo rộn rã trong tiếng trống, tiếng chiêng. Theo quan niệm của người Thái, tiếng trống được ví như tiếng sấm báo hiệu cho mưa thuận gió hòa, kéo co còn mang ý nghĩa kéo những gì may mắn về bản và đưa những gì không may mắn đi. Đây là nghi lễ nên mọi người tham gia kéo cũng nhẹ nhàng nhưng cũng không làm mất đi sự hấp dẫn, hào hứng. Sau khi kéo đủ ba lần, cuối cùng phần thắng bao giờ cũng thuộc về bên nữ. Bởi họ cho rằng, phụ nữ là mẹ nhà, mẹ bản, bên nữ thắng thì năm đó bản làng mới được nhiều may mắn. Kết thúc nghi thức kéo co, mọi người rót rượu mời hai đội tham gia với ý nghĩa chúc mừng hai đội, sau đó mọi người trong bản chia thành từng đội thi kéo với nhau.","Nguồn":"http://thegioidisan.vn/vi/keo-co-trong-le-hoi-truyen-thong-cua-dong-bao-vung-tay-bac.html"},{"_id":16,"#":16,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Khan (Sử thi) của người Ê Đê ","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL Ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Ngữ văn dân gian","Dân tộc":"Ê đê","Địa điểm":"Tỉnh Đắk Lắk","Mô tả":"Sử thi Ê đê (người bản tộc gọi là Khan) ra đời trong điều kiện xã hội loài người có những biến động lớn về những cuộc di cư lịch sử, đặc biệt là những cuộc chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc để giành đất sống ở vùng rừng núi Tây Nguyên. Hát kể sử thi của người Ê đê là một sinh hoạt văn hoá đặc biệt, trong đó người hát kể có một vị trí quan trọng trong việc gìn giữ, sáng tạo và diễn xướng, nhất là trong điều kiện chưa có chữ viết, các tác phẩm chỉ lưu truyền bằng phương thức truyền miệng. Nội dung của hát kể sử thi chủ yếu ca ngợi các anh hùng dân tộc, tôn vinh những người có công tạo lập buôn làng, những người anh hùng có công bảo vệ cộng đồng thoát khỏi sự diệt vong, áp bức và sự xâm chiếm của các thế lực khác; đề cao sự sáng tạo, mưu trí tài giỏi, tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn, nêu cao chính nghĩa, phản kháng những điều trái với đạo lý, luật tục; ca ngợi cái đẹp về sức mạnh hình thể lẫn tâm hồn, tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, mong muốn chinh phục thiên nhiên để cuộc sống tốt đẹp hơn; miêu tả cuộc sống sinh hoạt, lao động bình thường giản dị của buôn làng. Với cốt truyện dài, kết nối các sự kiện một cách linh hoạt, sáng tạo, sinh động, tạo sự thống nhất về nội dung và có sức lôi cuốn người nghe, vì thế, sử thi có thể được hát kể nhiều ngày đêm mới kết thúc. Điểm khác biệt của hình thức hát kể sử thi là sự tài tình khéo léo của người kể, tạo nên sức lối cuốn hấp dẫn đối với người nghe, đưa cả người kể lẫn người nghe hòa nhập và cuộc sống ở thời đại của các nhân vật. Người kể đắm chìm, hóa thân vào cuộc đời của từng nhân vật, người nghe cũng hồi hộp dõi theo từng hành động, từng biến cố thăng trầm lẫn vinh quang hạnh phúc trong từng tuyến nhân vật. Các nhân vật sử thi không chỉ xuất hiện trong lời kể mà dường như đang sống cùng cộng đồng, hòa cùng với không gian của núi rừng, buôn làng, có lúc tưởng chừng như đối thoại cùng người nghe. Chính vì vậy, sử thi có sức lôi cuốn, hấp dẫn người nghe đến kỳ lạ, giúp họ quên đi những nhọc nhằn của cuộc sống lao động thường ngày, đồng thời tiếp thêm nghị lực để họ vững tin vào tương lai, tránh xa những điều tầm thường, vươn lên sống tốt đẹp hơn.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/khan-su-thi-cua-nguoi-e-de-o-dak-lak-1168"},{"_id":17,"#":17,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDLNgày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"17 dân tộc","Địa điểm":"Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng","Mô tả":"Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam. Tín ngưỡng chủ đạo của cư dân nơi đây xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên, shaman giáo và thờ cúng vật linh. Gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày của cư dân và chu kỳ các mùa trong năm, những tín ngưỡng này hình thành nên một thế giới thần bí, nơi mà những chiếc cồng chiêng là chiếc cầu nối thông linh giữa con người, thần linh và thế giới siêu nhiên. Chứa đựng bên trong mỗi chiếc chiêng, chiếc cồng là một vị thần. \"Cồng chiêng càng già thì thần linh càng mạnh và càng thiêng\"*. Hầu như nhà nào cũng có cồng chiêng, thậm chí có gia đình có tới vài bộ. Điều này thể hiện sự giàu có và quyền thế, đồng thời cũng là vật che chắn, bảo vệ cho gia đình. Bao ngàn đời nay, cồng chiêng gắn với Tây Nguyên như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu như tất cả các sự kiện quan trọng của cộng đồng: từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả, v.v. cho đến lễ cúng máng nước, mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rông mới, v.v.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/khong-gian-van-hoa-cong-chieng-tay-nguyen-484"},{"_id":18,"#":18,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Kỹ thuật chế biến rượu cần của người Xtiêng ","Quyết định ghi nhận":"4597/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Xtiêng","Địa điểm":"Bình Phước","Mô tả":"Rượu cần theo tiếng Xtiêng gọi là Đ’rắp S’lung hay Rơ nơm Đ’rắp, là thức uống độc đáo và cũng là một loại sản vật gắn chặt với đời sống văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Xtiêng ở Bình Phước. Rượu cần được chế biến theo một quy trình công phu, nghiêm ngặt, đòi hỏi người chế biến phải có kinh nghiệm, tay nghề cao. Rượu cần của người Xtiêng Bình Phước có 2 loại: Rượu cần đắng và Rượu cần ngọt, có nồng độ cồn thấp, mùi thơm nồng, dễ uống. Hai yếu tố tạo nên sự khác nhau của rượu là: nguyên liệu chế biến và men làm từ các loại lá cây và vỏ cây. Tuy cách thức chế biến rượu cần của người Xtiêng ở các vùng là tương tự nhau, nhưng nguyên liệu để chế biến lại có sự khác nhau, phản ảnh sự đa dạng về cách thức chế biến cũng như hương vị rượu cần của người Xtiêng Bình Phước. Để chế biến từ những loại cây, lá cây mọc trong tự nhiên thành loại rượu cần thơm ngon, đậm đà, riêng có của người Xtiêng Bình Phước, họ đã ghi nhớ, chắt lọc, sáng tạo và tích lũy kinh nghiệm qua hàng trăm năm lịch sử. Rượu cần của người Xtiêng cũng thể hiện văn hóa ứng xử của cư dân với cộng đồng, mối quan hệ gắn kết cộng đồng, là thức uống không thể thiếu trong dịp lễ hội, đám cưới, mừng nhà mới, mừng cơm mới,..","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/ky-thuat-che-bien-ruou-can-cua-nguoi-xtieng-tinh-binh-phuoc-3195"},{"_id":19,"#":19,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Kỹ thuật làm giấy bản của người Dao Đỏ","Quyết định ghi nhận":"3325/QĐ-BVHTTDL ngày 04/09/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tri thức dân gian","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Hà Giang (thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang)","Mô tả":"Kỹ thuật làm giấy bản của người Dao Đỏ ở thị trấn Việt Quang là quy trình sản xuất giấy bản được tạo ra với bàn tay, khối óc và kinh nghiệm được đúc rút qua nhiều thế hệ. Người Dao Đỏ phải thực hiện nhiều công đoạn khác nhau, công phu và hoàn toàn không sử dụng bất kỳ loại hóa chất nào.Nguyên liệu chính làm giấy bản là măng của cây vầu. Bà con lên rừng chọn những cây có gióng dài nhất đem về chặt ra, ngâm nước, sau khoảng 3 tháng, vớt vầu ra rồi dùng chày, cối thủ công giã thành bột. Bột được pha với nhớt của một loại cây trên rừng gọi là cây nhớt làm cho giấy dai hơn. Bột vầu và nhớt được hòa vào trong bể nước, tiếp đó bà con dùng sàng bằng tre, được vót, đan rất khéo léo để khua, lắng vớt, tạo ra những màng bột mỏng, đó chính là giấy bản. Cứ thế, lớp nọ vớt lên xếp lên lớp kia, ép thủ công cho kiệt nước rồi mang ra phơi vài nắng để có được những tấm giấy bản màu vàng nhạt, dai và có một mùi khá thơm giống như giấy điệp vẽ tranh Đông Hồ nổi tiếng ở đất Kinh Bắc.\n\nĐể gìn giữ, bảo tồn nghề truyền thống, người Dao Đỏ ở Thanh Sơn chỉ truyền bí quyết sản xuất cho con trai hoặc con trưởng, cháu đích tôn; người học nghề phải ứng xử theo \"đạo\" và những quy tắc nhất định; những sản phẩm bị lỗi đều được ngâm vào nước, sản xuất lại… Điều đó cho thấy, những yếu tố nhân văn và giá trị văn hóa truyền thống quý báu được người Dao Đỏ nơi đây đặc biệt coi trọng, gìn giữ.","Nguồn":"http://baodaknong.org.vn/di-san-truyen-thong/ky-thuat-lam-giay-ban-cua-nguoi-dao-do-o-viet-quang-ha-giang-78904.html"},{"_id":20,"#":20,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Kỹ thuật trồng lanh và dệt vải lanh của người Mông","Quyết định ghi nhận":"246/QĐ-BVHTTDL ngày 19/01/2016 ","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tri thức dân gian","Dân tộc":"Mông","Địa điểm":"Hà Giang (xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ)","Mô tả":"Để làm ra được tấm vải lanh, người Mông phải tốn khá nhiều công sức, trải qua gần 40 công đoạn. Đầu tiên là phải khéo léo tước cây lanh lấy vỏ. Những bó vỏ lanh được cuộn chặt rồi cho vào cối giã cho bong hết bột chỉ còn trơ lại sợi dai. Những bó sợi lanh được xe và cuộn lại thành những con sợi lớn. Qua vài lần luộc nước tro bếp và một lần luộc nước sáp ong, sợi lanh đã trắng và mềm hơn, những người phụ nữ Mông bắt đầu ngồi vào khung dệt của mình. Tấm vải được dệt xong còn phải giặt lại nhiều lần cho thật trắng. Tấm vải lanh sau khi dệt sẽ được nhuộm. Màu chàm đen là chủ đạo nhưng người Mông còn nhuộm những màu khác như đỏ, vàng, xanh sẫm… Tất cả các màu để nhuộm đều được chiết từ lá cây rừng, tuyệt đối không có hóa chất công nghiệp. Muốn có màu chàm đen như ý, mảnh vải phải được nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần, trong nhiều ngày. ","Nguồn":"http://baodaknong.org.vn/di-san-truyen-thong/nghe-det-lanh-cua-nguoi-mong-o-lung-tam-ha-giang-85181.html"},{"_id":21,"#":21,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Bỏ mả của người Raglai ","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012; 4069/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2018","Năm được ghi nhận":"2012; 2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Raglai","Địa điểm":"Khánh Hòa (xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn); Ninh Thuận (xã Phước Chiến, huyện Thuận Bắc)","Mô tả":"Người Raglai quan niệm, có hai thế giới song song tồn tại là thế giới của người sống và thế giới của những người đã khuất. Khi người chết đã được chôn cất, vẫn còn mối quan hệ với người đang sống, bởi linh hồn của người chết vẫn còn lẩn khuất trong cõi nhân gian, nên phải làm Lễ Bỏ mả để chính thức chấm dứt mối quan hệ này. Đây là nghi lễ quan trọng nhất trong các nghi lễ vòng đời của người Raglai - lễ chia tay vĩnh viễn giữa người sống và người chết để người chết được trở về thế giới vĩnh hằng. Lễ Bỏ mả được tổ chức theo hai hình thức: bỏ mả cùng lúc với đám tang hay bỏ mả có thời gian chuẩn bị. Bỏ mả cùng với đám tang sẽ thuận tiện cho gia đình hơn, song hiện nay, ở huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, nhiều gia đình có người chết vẫn chọn hình thức bỏ mả có thời gian chuẩn bị, vì nó phù hợp với tình cảm của con người khi buộc phải dứt mọi quan hệ với người thân vừa khuất.\nTheo luật tục của người Raglai, khi tổ chức Lễ Bỏ mả cho người thân, gia đình phải mời đủ những người đã từng tham dự lễ tang để họ chia tay lần cuối với người chết, đồng thời để bày tỏ lòng tri ân của gia đình đối với cộng đồng. Vì vậy, để tổ chức cho Lễ Bỏ mả, gia đình phải chọn ngày giờ, sau đó phải chuẩn bị trước hàng tháng việc ủ rượu cần, dựng sạp lễ, làm nhà mồ, trang trí nhà mồ và đặc biệt là làm Kagor, một con thuyền gỗ với nhiều vật trang trí, đặt trên nóc nhà mồ trong Lễ Bỏ mả - biểu tượng cho nơi trú ngụ của ông bà ở thế giới bên kia. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-bo-ma-cua-nguoi-raglai-o-huyen-khanh-son-khanh-hoa-3152"},{"_id":22,"#":22,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cấp sắc của người Dao Quần Chẹt","Quyết định ghi nhận":"255/QĐ-BVHTTDL ngày 22/01/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao quần chẹt","Địa điểm":"Điện Biên","Mô tả":"Lễ cấp sắc (Tủ cải) của người Dao quần chẹt ở tỉnh Điện Biên là nghi lễ quan trọng,  phản ánh bản sắc chế độ phụ quyền, đánh dấu sự trưởng thành của đàn ông trong cộng đồng người Dao, kèm theo đó là hệ thống các nghĩa vụ mà thành viên đó được và phải gánh vác. Lễ cấp sắc còn là dịp để người Dao tưởng nhớ đến tổ tiên, hiểu rõ hơn về cội nguồn dân tộc, từ đó nâng cao ý thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông trao truyền lại. Lễ cấp sắc là một trong những hoạt động phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người Dao thông qua các điệu múa, lời hát, tranh vẽ, hình cắt giấy… Lễ cấp sắc giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng của người Dao, giúp họ có thêm sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn, cùng hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Đặc biệt, lễ cấp sắc còn là dịp để những người đàn ông Dao cùng các thành viên trong cộng đồng hiểu rõ và thực hiện tốt hơn đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo, hiếu thuận với cha mẹ, làm việc thiện, tránh điều ác… Qua lời cúng, lời hát, lời kể và các tích truyện được các thầy cúng thể hiện khi hành lễ cấp sắc, người thụ lễ và người dự lễ có dịp hiểu rõ hơn về lịch sử cội nguồn dân tộc, mỗi người thêm tự hào về bản thân, về nguồn gốc tộc người. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cap-sac-cua-nguoi-dao-quan-chet-tinh-dien-bien-3253"},{"_id":23,"#":23,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cấp sắc của người Dao Tiền","Quyết định ghi nhận":"258/QĐ-BVHTTDL ngày 22/01/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao Tiền","Địa điểm":"Tân Sơn, Phú Thọ","Mô tả":"Lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ được gọi là “Cấp sắc”, hay “Lập tĩnh”, nghĩa là đặt tên âm hay tên cúng cơm cho nam giới, đánh dấu sự trưởng thành của họ về mặt sinh lý cũng như xã hội, được cộng đồng thừa nhận, được hưởng quyền lợi của mình trong xã hội, được công nhận là con cháu của Bàn Vương và mới đủ điều kiện để trở thành thầy cúng. Lễ cấp sắc của người Dao Tiền là sự tổng hợp các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, từ thơ ca, âm nhạc, biểu diễn, tạo hình... mỗi thể loại đều gắn liền với câu chuyện, sự tích các vị thần linh. Lễ cấp sắc góp phần minh chứng về nguồn gốc lịch sử hình thành và phát triển của người Dao Tiền nói riêng và của cộng đồng người Dao tỉnh Phú Thọ nói chung, quá trình di cư của người Dao vào Việt Nam. Lễ cấp sắc còn phản ánh sinh động những phong tục, tập quán, đời sống kinh tế của người Dao Tiền trước đây, với các nghi lễ cúng cầu mùa, cúng gọi hồn các loại giống cây trồng, vật nuôi, đến các bài múa, bài hát kể về quá trình lao động, sản xuất để tạo ra các hạt thóc, hạt lúa, các công cụ để làm ra các vật phẩm dâng cúng thần linh. Lễ cấp sắc của người Dao Tiền mang đậm giá trị nghệ thuật, bảo lưu nghệ thuật diễn xướng phong phú (24 điệu múa, các bài hát với 36 làn điệu khác nhau, 24 - 36 câu chuyện); âm nhạc đa dạng về nội dung và hình thức (trống, chiêng, tù và, thanh âm dương); nghệ thuật tạo hình (tranh thờ, cắt giấy đồ mã). Lễ cấp sắc của người Dao Tiền là một biểu tượng văn hóa tổng hợp và phong phú, có giá trị trong việc nghiên cứu văn hóa, lịch sử tộc người, phản ánh nhiều khía cạnh cuộc sống của cộng đồng người Dao Tiền.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cap-sac-cua-nguoi-dao-tien-tinh-phu-tho-3254"},{"_id":24,"#":24,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cấp sắc của người Sán Dìu","Quyết định ghi nhận":"4069/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Sán Dìu","Địa điểm":"Phú Bình, Thái Nguyên","Mô tả":"Người Sán Dìu nói chung và người Sán Dìu ở xã Nam Hòa (huyện Đồng Hỷ), xã Bàn Đạt (huyện Phú Bình), tỉnh Thái Nguyên, muốn trở thành thầy cúng phải trải qua thủ tục bắt buộc là nghi lễ Cấp sắc để được thế giới thần linh chấp thuận, đồng thời, đánh dấu bước trưởng thành của họ trong cộng đồng người Sán Dìu. Để được Cấp sắc, người thụ lễ, thường là nam giới, phải có quá trình học chữ Hán nôm, biết đọc, viết thành thạo, có thời gian phụ giúp thầy, hiểu và thực hành được một số nghi lễ truyền thống của dân tộc mình. Người được cấp sắc có thể là người nối nghiệp gia đình, dòng họ; người có “căn”; những người do mong muốn được hành nghề và tham gia vào công việc của cộng đồng. Khi đạt đến một trình độ nhất định, được cộng đồng tín nhiệm thì xin thầy, xin thần linh tổ chức nghi lễ “Cấp sắc” để chính thức hành nghề. Nghi lễ Cấp sắc có vai trò quan trọng đối với đời sống tâm linh của cộng đồng người Sán Dìu, góp phần tạo niềm tin cho người thụ lễ cũng như cộng đồng rằng các thần thánh đã chứng nhận, giúp họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, khỏi những ốm đau hoạn nạn… Nghi lễ Cấp sắc thể hiện ý thức tôn sư trọng đạo của người Sán Dìu, người Thày được người thụ lễ kính trọng như cha, thực hiện các hành động báo hiếu. Nghi lễ góp phần giáo dục các thành viên trong cộng đồng về đạo đức, lễ nghĩa, cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên. Nghi lễ Cấp sắc của người Sán Dìu bảo lưu giá trị nghệ thuật như: nghệ thuật múa, cắt dán giấy, trang trí đàn lễ, hệ thống tranh thờ dân gian. Ngoài ra, nghi lễ còn thể hiện tinh thần cố kết cộng đồng qua sự tham gia, giúp đỡ của cộng đồng cho nghi lễ.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cap-sac-cua-nguoi-san-diu-3132"},{"_id":25,"#":25,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cấp sắc của người Tày","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Tỉnh Bắc Kạn","Mô tả":"","Nguồn":"https://baotintuc.vn/tin-tuc/doc-dao-le-cap-sac-cho-thay-tao-o-bac-kan-20170130095348504.htm"},{"_id":26,"#":26,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cầu an (Pang A) của người La Ha","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"La Ha","Địa điểm":"Sơn La","Mô tả":"Lễ Pang A của người La Ha ở các huyện Mường La, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, tỉnh Sơn La, là nghi lễ cầu an, tạ ơn thần linh của những người/con nuôi đã được thầy cúng chữa khỏi bệnh. Lễ được tổ chức vào tháng 3 Dương lịch hàng năm, thời gian tổ chức lễ hội phụ thuộc vào các yếu tố: phải có hoa ban, hoa mạ nở rộ, mưa đã xuống và măng đắng đã mọc lên, vì những thứ này không thể thiếu được trong đồ lễ cúng của người La Ha; hay vào tháng 10 - 11 khi hoa trạng nguyên nở rộ (gọi là Lễ Xek Pang Á) với người La Ha ở xã Mường Sại, huyện Quỳnh Nhai. Người La Ha quan niệm con người có hồn vía, khi hồn vía bị lưu lạc con người sẽ ốm đau, bệnh tật, vì vậy phải nhờ thầy cúng gọi hồn về. Để cảm tạ, người bệnh nhận thầy cúng làm cha nuôi. Hàng năm hoặc vài năm một lần, tùy vào điều kiện gia đình thầy cúng sẽ tổ chức lễ, mời các thần linh về dự phù hộ cho các con nuôi, dân bản khỏe mạnh, cho mọi loại bệnh đều được chữa khỏi. Vào dịp này, các con nuôi ở khắp nơi đều về để dâng lễ lên các thần linh, báo đáp công lao của cha nuôi, cùng nhau vui chơi, giao lưu tình cảm. Các con nuôi tùy thuộc vào điều kiện gia đình, bệnh được chữa nặng hay nhẹ, là con nuôi lâu năm hay mới mà chuẩn bị các lễ vật dâng cúng phù hợp. Nghi lễ có sự tham gia của 2 thầy cúng, các con nuôi và người dân trong bản. Lễ Pang A góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa tộc người như: ẩm thực, diễn xướng dân gian, nghệ thuật múa, đặc biệt là múa sừng lừng… của người La Ha; thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng và giải trí của cộng đồng, giúp họ có niềm tin vào cuộc sống ngày mai.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cau-an-pang-a-cua-nguoi-la-ha-3136"},{"_id":27,"#":27,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cầu làng (Áy lay) của người Dao Họ","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao Họ","Địa điểm":"Lào Cai (huyện Văn Bàn)","Mô tả":"Mỗi năm, người Dao họ ở Văn Bàn đều tổ chức Lễ cầu làng 3 lần vào dịp mùng 2/2, mùng 6/6 và 12/12, trong đó lễ cúng ngày mùng 6/6 được tổ chức lớn nhất. Mặc dù Lễ cầu làng được tổ chức nhiều lần trong năm, nhưng nội dung và diễn trình của nghi lễ lại tương đối thống nhất, mang ý nghĩa cầu và tạ ơn thần linh ban cho con người sức khỏe, bản làng hạnh phúc, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển, xua đuổi mọi dịch bệnh và những gì không may mắn ra khỏi làng.","Nguồn":"http://laocaitv.vn/van-hoa-du-lich/doc-dao-le-cau-lang-cua-nguoi-dao-ho"},{"_id":28,"#":28,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"","Địa điểm":"Tỉnh Gia Lai","Mô tả":"Hàng năm, cứ vào đầu mùa trồng trỉa (khoảng tháng 4 dương lịch), lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui (Vua Lửa) diễn ra trong cộng đồng người Jrai ở các huyện: Phú Thiện, Ia Pa, Krông Pa và thị xã Ayun Pa (Gia Lai). Lễ cúng cầu mưa là văn hóa tín ngưỡng dân gian đặc trưng của đồng bào dân tộc Jrai nhằm cầu mong trời đất ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đời sống no đủ, mọi người được bình an khỏe mạnh… Nghi lễ cúng cầu mưa thường diễn ra vào giai đoạn cao điểm của mùa khô, thời điểm thường xảy ra hạn hán gay gắt, khốc liệt. Vì lẽ đó, cứ vào trung tuần tháng 4 hàng năm, người Jrai lại rộn ràng chuẩn bị lễ vật để cúng cầu mưa.","Nguồn":"http://baodaknong.org.vn/di-san-truyen-thong/le-hoi-cau-mua-cua-nguoi-jrai-85460.html"},{"_id":29,"#":29,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cầu năm mới, cầu mùa của người Dao (Tịu siằng thun boàu liu)","Quyết định ghi nhận":"246/QĐ-BVHTTDL ngày 19/01/2016 ","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao","Địa điểm":"Bắc Kạn (xã Đồng Xá, huyện Na Rì)","Mô tả":"Lễ cầu năm mới, cầu mùa vào mỗi dịp đầu xuân đã trở thành nghi lễ chính thức, là việc làm rất cần thiết trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào Dao. Qua Lễ hội cầu năm mới, cầu mùa thể hiện mong muốn của đồng bào về một mùa màng bội thu, không thiên tai, dịch bệnh, thể hiện khao khát hướng tới một cuộc sống ấm no, mạnh khỏe, hạnh phúc. Trải qua rất nhiều thế hệ, Lễ cầu năm mới, cầu mùa vẫn đang tiếp tục duy trì thực hành, là hoạt động văn hóa tín ngưỡng thể hiện rõ bản sắc và mang tính đại diện của cộng đồng người Dao đang sinh sống tại đây.","Nguồn":"https://sovhttdl.backan.gov.vn/Pages/tin-tuc-su-kien-387/tin-hoat-dong-417/le-cau-nam-moi-cau-mua-cua-ng-ee1045bb7c8efeef.aspx"},{"_id":30,"#":30,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cúng dòng họ của người Mông","Quyết định ghi nhận":"4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Mông","Địa điểm":"Sơn La","Mô tả":"Người Mông rất coi trọng dòng họ, với quan niệm cùng dòng họ là những người anh em có cùng tổ tiên, có thể đẻ và chết trong nhà nhau, luôn giúp đỡ, cưu mang nhau. Từ đó, hình thành lễ cúng dòng họ. Lễ cúng dòng họ là một trong những nghi lễ độc đáo và được lưu truyền từ nhiều đời nay trong cộng đồng người Mông ở Sơn La. Đây là cơ hội gặp gỡ, giao lưu, thể hiện sự gắn kết, giúp đỡ lẫn nhau của cả dòng họ, thúc đẩy, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của cộng đồng làng, bản, xã. Lễ cúng thể hiện quan niệm của người Mông về thế giới tâm linh, tín ngưỡng đa thần giáo và thể hiện quan niệm về gia đình, dòng họ và cộng đồng làng bản cũng như cố kết cộng đồng của người Mông ở Sơn La. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cung-dong-ho-cua-nguoi-mong-1337"},{"_id":31,"#":31,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cúng rừng (Mo đổng trư) của người Nùng","Quyết định ghi nhận":"3247/QĐ-BVHTTDL ngày 16 tháng 9 năm 2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Nùng","Địa điểm":"Huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang","Mô tả":"Cứ vào tháng 2 (âm lịch) hằng năm, tại khu rừng “cấm” của thôn Pố Lồ, xã Pố Lồ, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, đồng bào dân tộc Nùng nơi đây lại tổ chức lễ cúng Thần rừng Mo Đổng Trư nhằm mục đích tưởng nhớ lại vị thủ lĩnh của người nùng có tên là Hoàng Vần Thùng đã có công cứu giúp dân làng chống giặc và cũng mang ý nghĩa giữ rừng. Lễ cúng Thần rừng nhằm mục đích cầu chúc một năm mới mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu và bảo vệ rừng. Quan trọng nhất là bảo vệ phong tục tập quán, nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Nùng.","Nguồn":"https://nhandan.vn/di-san/doc-dao-le-cung-than-rung-cua-nguoi-nung-351840"},{"_id":32,"#":32,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cúng rừng (Mủ Đẳng Mai) của người Thu Lao","Quyết định ghi nhận":"2067/QĐ-BVHTTDL ngày 13/6/2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Thù Lao (Tày)","Địa điểm":"Xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Người Thu Lao được xếp vào dân tộc Tày, nhưng họ sống tương đối biệt lập, nên có nhiều nét riêng biệt về văn hoá với các nhóm cư dân đồng tộc. Làng của người Thu Lao quần tụ ở các triền núi. Tại đó còn có khu rừng thiêng tên gọi Lùng sảng, được dân làng suy tôn làm thần bảo hộ của cộng đồng. Theo quan niệm của người Thu Lao xã Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai, rừng thiêng là nơi trú ngụ của thần linh – người che chở, phù hộ và  bảo vệ cho bản làng được bình yên, các thành viên đó sức khỏe, đoàn kết, vật nuôi sinh sôi phát triển, cây trồng tươi tốt, mùa màng bội thu... Vì vậy, rừng thiêng được đồng bào bảo vệ và chăm sóc rất chu đáo. Lễ cúng rừng (Mủ đẳng mai) của người Thu Lao, được tổ chức mỗi năm hai lần, tại khu rừng thiêng đầu thôn, vào ngày cuối cùng của tháng Giêng (Đẳng đổng mai) và ngày cuối cùng tháng Năm (Đuổn chặc). Lễ cúng vào mùa xuân được thực hiện tại gốc cây mẹ (nắc minh nhừng) - thần rừng vợ, cầu cho vật nuôi không bị dịch bệnh, ốm chết (sau lễ cúng sẽ cấm “bang”, cấm bản 3 – 4 ngày). Lễ cúng vào mùa hạ được thực hiện tại gốc cây bố (na bu gio) - thần rừng chồng, cầu mong thần rừng phù trợ cho “người yên, vật thịnh”, cầu cho mùa màng tươi tốt, không cho gió vào làng, vào nương vào ruộng, bông lúa không trắng (sau lễ cúng không cấm bản)...Mặc dù, tổ chức vào hai thời điểm khác nhau nhưng các nghi thức, nghi lễ được thực hiện giống nhau. Nội dung và hình thức tổ chức lễ cúng rừng của người Thu Lao đã phần nào phản ánh được mối quan hệ chặt chẽ, sự gắn kết giữa rừng - nước - đất đảm bảo cho cuộc sống của mỗi một tộc người; tri thức bản địa hài hòa với môi trường, thể hiện qua cách lựa chọn địa điểm cho các nghi lễ, trò chơi diễn ra rất thân thiện với môi trường, cảnh quan xung quanh.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cung-rung-mu-dang-mai-cua-nguoi-thu-lao,-tinh-lao-cai-1275"},{"_id":33,"#":33,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cúng rừng của người Giáy","Quyết định ghi nhận":"2735/QĐ-BVHTTDL ngày 30/9/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Giáy","Địa điểm":"Lào Cai (huyện Văn Bàn)","Mô tả":"","Nguồn":""},{"_id":34,"#":34,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cúng rừng của người Phù Lá","Quyết định ghi nhận":"3609/QĐ-BVHTTDL ngày 27/09/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Phù Lá","Địa điểm":"Hà Giang (xã Nàn Sỉn, huyện Xín Mần)","Mô tả":"","Nguồn":""},{"_id":35,"#":35,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Pu Péo","Địa điểm":"Xã Phố Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang","Mô tả":"Trong đời sống tín ngưỡng của người Pu Péo, tục cúng thần rừng đã có từ lâu đời. Các khu vực người Pu Péo sinh sống đều có một khu rừng cấm riêng, nơi thần rừng cư ngụ, được người dân gìn giữ và bảo vệ bởi các luật tục và điều kiêng kỵ, không được xâm phạm nơi ở của thần, không được vào rừng chặt cây, lấy củi, săn bắn… Với người Pu Péo, thần rừng (Sau ngun hay Sau nguôn) có vị trí đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng nhất và được cầu khấn trong hầu hết các nghi lễ thờ cúng. Người Pu Péo cho rằng thần rừng là chủ nhân của rừng cấm. Rừng cấm còn là nơi ở của nhiều vị thần khác, tổ tiên từ nhiều đời trước, không còn được thờ cúng trong gia đình, là nơi dừng chân, hội tụ của thế giới các vị thần mỗi khi qua lại và gặp nhau. Lễ cúng thần rừng được tổ chức ở khu vực bìa rừng, phía sau làng. Đàn cúng được làm từ những cành cây nhỏ, để nguyên lá, cắm xuống đất, cành đan vào nhau, cao khoảng 1,0m, dựng quay về rừng cấm. Trước đó, người dân cùng họp phân công công việc và chuẩn bị lễ vật cho thần rừng. Người dân cùng đóng góp tiền mua lễ vật, mời thầy cúng và cùng chuẩn bị thực hiện lễ cúng.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cung-than-rung-cua-nguoi-pu-peo-3161"},{"_id":36,"#":36,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Lô Lô","Địa điểm":"Xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang","Mô tả":"Lễ cúng tổ tiên là một nghi lễ cổ truyền của người Lô Lô, thường được tổ chức hàng năm vào ngày 14 tháng 7 (Âm lịch) tại các gia đình trưởng họ. Theo lệ thường, khi làm lễ, trưởng họ sẽ là người đứng ra sắm lễ, các gia đình trong dòng họ đóng góp theo khả năng. Lễ vật bắt buộc phải có để dâng cúng tổ tiên gồm: 1 con bò, 1 con lợn, 1 con gà, xôi, rượu, tiền vàng (phíu khí), đèn dầu, đôi trống đồng. Khi dòng họ có kế hoạch làm lễ, trưởng họ phải trực tiếp đi mời thầy cúng (trừ khi trưởng họ là thầy cúng thì công việc này do trưởng họ đảm nhiệm) và cử một người đàn ông trong họ đi mượn trống đồng về để làm lễ. Đây là bảo vật linh thiêng của cộng đồng, luôn có đôi, đôi trống chỉ được đem ra đánh khi có lễ hội lớn trong cộng đồng, dòng tộc. Sau đó, mời nghệ nhân đánh trống đồng tại nhà trong Lễ cúng tổ tiên, mời và nhờ người hóa trang thành người rừng, hay còn gọi là Ma cỏ (Ghà Lu Ngang) để múa nghi lễ. Lễ cúng tổ tiên của người Lô Lô gồm 3 phần chính: Lễ hiến tế, Lễ tưởng nhớ và Lễ tiễn đưa tổ tiên. Lễ cúng tổ tiên là một trong những sinh hoạt thuộc các nghi lễ vòng đời của người Lô Lô, mang tính giáo dục cộng đồng hướng về nguồn cội, biết ơn tổ tiên, giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự cố kết cộng đồng gia đình, dòng họ, làng bản, … Đây là nghi lễ mang tính thiêng, đầy chất nghệ thuật của riêng người Lô Lô.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cung-to-tien-cua-nguoi-lo-lo-3157"},{"_id":37,"#":37,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Cúng trưởng thành của người Ê đê","Quyết định ghi nhận":"3325/QĐ-BVHTTDL ngày 04/9/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Ê đê","Địa điểm":"Phú Yên","Mô tả":"Đối với người đàn ông Ê đê ở Phú Yên, lễ cúng trưởng thành không thể bỏ qua. Tùy theo điều kiện kinh tế của từng gia đình mà lễ cúng trưởng thành của người Ê đê ở Phú Yên có thể được thực hiện trong tuổi thành niên (chưa có vợ hoặc đã có vợ con), trong tuổi trung niên và có người đến khi chết vẫn chưa thực hiện được. Việc cúng do cha mẹ đẻ sắm sửa mâm cỗ, làm lễ. Nếu cha mẹ không có điều kiện (hoặc không còn) thì chị em có thể cúng thay. Lễ cúng trưởng thành của người Ê đê ở Phú Yên góp phần bảo lưu các phong tục, tập quán xã hội, gìn giữ văn hóa cồng chiêng, các điệu nhảy, điệu múa truyền thống. Lễ cúng giúp con người cảm thấy yên tâm hơn dưới sự che chở của thần linh. Đây cũng là nguồn dữ liệu phong phú cho việc nghiên cứu văn hóa, nghi lễ, phong tục, tập quán tộc người, làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách phù hợp với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của đồng bào, tăng cường ý thức đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội của địa phương.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-cung-truong-thanh-cua-nguoi-e-de-3131"},{"_id":38,"#":38,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Gạ ma do (Cúng rừng) của người Hà Nhì ","Quyết định ghi nhận":"3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Hà Nhì","Địa điểm":"Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Rừng thiêng của người Hà Nhì luôn nằm ở vị trí cao nhất của bản làng. Họ coi đây là nơi ngự trị của các thần linh. Cộng đồng người Hà Nhì vẫn lưu giữ một phong tục đặc biệt là lễ Gạ Ma Do cúng rừng đầu năm. Trước ngày diễn ra Lễ cúng rừng, người Hà Nhì tổ chức nghi lễ cấm bản. Sau lễ cúng, dây được căng lên buộc những lưỡi giáo mác đẽo từ tre nứa báo cấm trên các con đường chính dẫn vào bản để xua đuổi tà ma. Lễ được tổ chức vào ngày Thìn đầu tiên của tháng Giêng hàng năm. Đầu tiên người dân tập trung ở nguồn nước tự nhiên trong bản để nổi lửa và vệ sinh sạch sẽ khu vực cúng tế.Sau khi lễ tạ nguồn nước kết thúc, các thành viên trong bản mang nước từ dưới lên rừng cấm làm lễ. Mọi hành vi xâm phạm đối với rừng đều bị lên án và phải chịu hình phạt thích đáng. Mỗi thôn bản của người Hà Nhì đều có khu rừng cấm, đến mức việc nhặt củi mục cành gãy cũng không được phép. Việc bảo vệ rừng được thực hiện bởi cộng đồng trong bản. Trong lễ này, mọi công việc phải tiến hành trong rừng già. Củi được người dân mang từ dưới bản lên bởi quy định cấm tuyệt đối khai thác rừng. Không ai được đi giày dép trong khu rừng cấm của buổi lễ, việc này nhằm bày tỏ lòng tôn kính đến thần rừng. Chỉ ngôn ngữ của người Hà Nhì được sử dụng tại đây, tuyệt đối không dùng ngôn ngữ khác. Trong các làng bản của người Hà Nhì, việc quản lý bảo vệ rừng, giữ nguồn nước luôn được đồng bào coi trọng và có cách ứng xử nhân bản từ xưa đến nay.","Nguồn":"https://zingnews.vn/le-cung-rung-doc-dao-cua-nguoi-ha-nhi-post922539.html"},{"_id":39,"#":39,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Gạ ma thú (cúng bản) của người Hà Nhì","Quyết định ghi nhận":"446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Hà Nhì","Địa điểm":"Huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên","Mô tả":"Trong một năm, người Hà Nhì các xã Sín Thầu, Chung Chải, Sen Thượng, Leng Su Sìn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên có nhiều lễ hội, tiêu biểu là lễ Gạ ma thú (cúng bản) - nghi lễ lớn, quan trọng nhất trong năm với sự tham gia của cả cộng đồng. Lễ Gạ ma thú được người Hà Nhì tổ chức vào mùa xuân, khi các loài hoa rừng đua nhau khoe sắc, để hướng về cội nguồn, tổ tiên, ông bà, tri ân các vị tiền bối đã có công khai phá, bảo vệ bản mường; tạ ơn trời đất, tổ tiên, các đấng siêu nhiên đã phù hộ cho người dân mạnh khỏe, vạn vật sinh sôi, làm ăn phát triển và cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia đình ấm no, hạnh phúc; đồng thời, là dịp để mọi người cùng nghỉ ngơi, vui chơi, mừng mùa xuân mới.Theo phong tục, nghi lễ được tổ chức trong 3 ngày với 2 phần chính: nghi lễ và diễn xướng, trò chơi dân gian. Khi làm lễ Gạ ma thú, dân làng phải dừng các công việc trên nương rẫy, không gây mất đoàn kết, không ăn thịt thú rừng, không bắt hoặc mang vào bản các con vật sống trong hang, trong lòng đất như con dúi, con nhím, tê tê... để tránh rủi ro cho dân bản. Lễ Gạ ma thú hội tụ văn hóa dân gian của người Hà Nhì, thể hiện sự gắn bó keo sơn, sự hòa hợp của con người với thiên nhiên, với môi trường; sự tác động qua lại của vạn vật trong quá trình tồn tại và phát triển; lòng biết ơn với những gì mà trời đất đã ban tặng cho người Hà Nhì; là dịp để mọi người bày tỏ tình đoàn kết, gắn bó yêu thương nhau, cùng nhau vượt qua những khó khăn, thiếu thốn ở miền biên giới xa xôi.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-ga-ma-thu-cung-ban-cua-nguoi-ha-nhi-3127"},{"_id":40,"#":40,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Hát múa ăn mừng dưới cây Bông (Kin Chiêng Bọoc Mạy) của người Thái","Quyết định ghi nhận":"2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2017","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Thanh Hóa (xã Xuân Phúc, huyện Như Thanh)","Mô tả":"Lễ hát múa ăn mừng dưới cây bông (Kin Chiêng Boọc Mạy) là một nét đẹp văn hóa tinh thần độc đáo, lâu đời của cộng đồng người dân tộc Thái ở thôn 1, thuộc làng Roọc Răm, xã Xuân Phúc (Như Thanh). Xuất phát từ mục đích thờ tướng quân Trần Công Bát ở đền Cấm và mong ước sự bình yên trong cuộc sống và biết ơn các đấng thần linh đã phù hộ cho dân làng làm ăn trong suốt cả năm. Hàng năm, vào ngày rằm tháng Giêng, người Thái ở thôn 1 xã Xuân Phúc thường tổ chức lễ hát múa để nhân dân bày tỏ tấm lòng với tổ tiên, trời đất, mong muốn mưa thuận, gió hòa và mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người dân trong vùng.","Nguồn":"https://baothanhhoa.vn/van-hoa-giai-tri/vinh-danh-le-hat-mua-an-mung-duoi-cay-bong-kin-chieng-booc-may-xa-xuan-phuc-nhu-thanh/93232.htm"},{"_id":41,"#":41,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Hết Chá của người Thái","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La","Mô tả":"Người Thái quan niệm mọi vật đều có linh hồn, nên với bất cứ vấn đề gì nảy sinh trong cuộc sống, họ đều có các nghi lễ hóa giải. Lễ cho người làm nghề mo chang với những tên gọi khác nhau: Hết Chá (người Thái trắng, Mộc Châu), Xên Lẩu Nó (người Thái đen), Kin Pang Then (người Thái trắng, Quỳnh Nhai)… là một trong số rất nhiều nghi lễ của người Thái ở Mộc Châu, Sơn La. Từ xa xưa, người Thái nói chung và người Thái Mộc Châu nói riêng, mỗi khi bị bệnh, ngoài nhờ bốc thuốc nam chạy chữa, còn nhờ thầy mo đến cúng. Một số thầy mo, vừa làm lễ cúng cầu thần linh, vừa biết bốc thuốc chữa bệnh. Mang ơn thầy mo, những người được chữa khỏi bệnh thường xin được làm con nuôi. Thầy mo thường làm lễ tạ ơn (Lễ Hết Chá) để con nuôi dâng lễ tạ ơn, đồng thời là dịp làm lễ cầu cho các con nuôi, dân bản năm mới khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, súc vật sinh sôi nảy nở.\nLễ Hết Chá được tổ chức hàng năm, theo dương lịch, vào ngày 26 tháng 3, khi hoa ban, hoa mạ nở. Lễ được tổ chức trên một khu đồi gần trung tâm bản. Thầy mo thông báo thời gian làm lễ cho các con nuôi, gia đình họ hàng ở các nơi, đội xòe và bà con trong bản cùng tham dự. Lễ Hết Chá mang tính cộng đồng cao, tăng cường đoàn kết giữa các gia đình, dòng họ, bản mường; là cơ hội để các gia đình giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, nuôi dạy con cái, nâng cao đời sống... Nghi lễ còn là sự nhắc nhở con người về tinh thần uống nước nhớ nguồn, hài hòa trong các mối quan hệ ứng xử với thiên nhiên và xã hội; bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng, tri thức dân gian về chữa bệnh, trong canh tác...","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-het-cha-cua-nguoi-thai-1233"},{"_id":42,"#":42,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Ada Koonh (Mừng lúa mới) của người Pa Cô","Quyết định ghi nhận":"4582/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Pa Cô","Địa điểm":"A Lưới, Thừa Thiên Huế","Mô tả":"Chu trình canh tác lúa rẫy của người Pa Cô, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế bắt đầu từ lễ xin đất, phát rẫy và kết thúc bằng lễ hội cúng mừng lúa mới, Ada Kăn ở gia đình (giữa tháng Mười Một Âm lịch hàng năm) và Ada Koonh của làng. Trong đó, lễ hội Ada Koonh là lễ hội quan trọng, quy mô nhất. Lễ hội Ada Koonh nhằm thoả mãn đời sống văn hóa tâm linh của người Pa Cô, cầu mong mùa màng bội thu, trả ơn cho các vị thần. Lễ hội A Da Koonh trở thành Tết cổ truyền của người Pa Cô, thể hiện tính nhân văn giữa con người với các thế lực siêu nhiên, đặc biệt là thần lúa, cùng các vị thần đã che chở bảo hộ cho họ trong cuộc sống thường nhật. Ada Koonh không chỉ là nghi lễ cúng tế thần linh, là ngày Tết vui tươi nhộn nhịp của cộng đồng, mà còn thể hiện tính đoàn kết, tình cảm gắn bó thiêng liêng giữa con người, núi rừng của người Pa Cô. Ada Koonh là lễ hội có tính cộng đồng cao nhất với một không gian rộng lớn không chỉ gói gọn trong cộng đồng làng, mà còn có sự tham gia của các làng kết nghĩa. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-hoi-ada-koonh-mung-lua-moi-cua-nguoi-pa-co-3212"},{"_id":43,"#":43,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Bủng kham","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày, Nùng","Địa điểm":"Xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn","Mô tả":"Lễ hội Bủng Kham (Bủng Kham là vũng nước lớn) xưa kia địa điểm này là Vũng nước lớn. Lễ hội được tổ chức vào ngày 12 tháng giêng hàng năm tại Bủng Kham thôn Nà Phái, xã Đại Đồng. Lễ hội đã có từ lâu đời, từ khi đã có các tộc người Tày - Nùng - Dao - Kinh,.. cùng nhau sinh sống trên mảnh đất này. Theo các cụ già thôn Nà Phái kể lại về truyền thuyết cái tên “Thất Khê” (tiếng Hán tức là \"Bẩy dòng Suối\") cùng hội tụ và đưa nguồn nước quí về cho mảnh đất này và có các vị Thần tiên, Thần Nông bảo vệ cho cuộc sống thường ngày và sản xuất nông nghiệp của nhân dân tại nơi đây. Để tưởng nhớ vị Thần Nông đã nuôi sống con người qua bao thế hệ, bà con trong thôn xã Đại Đồng hàng năm cứ đến mùa xuân lại tổ chức Lễ hội lồng thồng cúng Thần Nông, Thần Thổ địa và các vị Thần Tiên (các Nàng Tiên) để cầu mong cuộc sống bình an, sức khỏe, làm ăn thuận lợi mùa màng bội thu cho tất cả bà con nhân dân trong thôn xã.","Nguồn":"http://baotanglangson.vn/index.php/tin-tuc/item/645-lễ-hội-bủng-kham"},{"_id":44,"#":44,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội cầu mùa của người Sán Chay","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Sán Chay","Địa điểm":"Thái Nguyên (huyện Phú Lương)","Mô tả":"Lễ hội cầu mùa là một trong những lễ hội lớn với nhiều nét văn hóa đặc trưng, độc đáo và truyền thống của đồng bào dân tộc Sán Chay ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Lễ hội thường được tổ chức vào trước hoặc sau Tết Nguyên đán hàng năm. Vào ngày tổ chức lễ hội cầu mùa, bà con trong làng chuẩn bị đầy đủ các lễ vật như thịt gà, thịt lợn, chuẩn bị đèn nến và các lễ vật khác. Đồ vật không thể thiếu trong khi làm lễ là những bức tranh cổ đi kèm. Một bộ tranh cổ đầy đủ của các thầy cúng gồm có 28 tờ tranh, từ tranh Ngọc Hoàng, tranh chiếu mệnh..., mỗi bức tranh được vẽ với những hình ảnh khác nhau, được dùng trong những dịp khác nhau. Bên cạnh các bức tranh, những đồ vật cần có trong lễ cúng cầu mùa là một thanh kiếm (hoặc đao), tượng trưng cho những dụng cụ làm đất trồng trọt… Khi lễ vật đã chuẩn bị xong, chủ lễ trong trang phục lễ tế bắt đầu hành lễ cầu xin các thần linh phù hộ cho dân làng quanh năm mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, muôn loài được sinh sôi nảy nở, làng xóm yên vui. Mọi người trong làng luôn mạnh khỏe, có cuộc sống ấm no…","Nguồn":"https://baotintuc.vn/tin-tuc/le-hoi-cau-mua-cua-dan-toc-san-chay-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-cap-quoc-gia-20190105223250551.htm"},{"_id":45,"#":45,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Dua Tpeng (Phá Bàu) của người Khmer","Quyết định ghi nhận":"4615/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Xã Lộc Khánh, Lộc Ninh, Bình Phước","Mô tả":"Người Khmer ở xã Lộc Khánh (huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước) cư trú gần những bàu (hồ) nước tự nhiên từ trên một héc ta đến vài héc ta. Bàu ở gần sóc (thôn/ấp/bản) nào được xem là tài sản chung của cộng đồng sóc đó, già làng của sóc đó là người đại diện quản lý. Để quản lý bàu nước, người Khmer luôn cử một người trông nom, bảo vệ, đồng thời có trách nhiệm xem xét xem đến lúc nào đủ điều kiện để đánh bắt cá dưới bàu thì báo cho già làng biết để quyết định tổ chức lễ hội. Lễ hội này được cộng đồng người Khmer gọi là Dua Tpeng (nghĩa là xuống bàu, phá bàu). Họ cũng quy định sẽ ấn định ngày cho cả cộng đồng cùng tổ chức lễ hội Dua Tpeng để khai thác thủy sản trong bàu. Thông thường, họ sẽ tổ chức lễ hội vào cuối mùa nắng (khoảng tháng Ba Âm lịch), trước khi tổ chức Tết Chol Chnăl Thmây của người Khmer. Thời điểm này cũng phù hợp với điều kiện thời tiết (cuối mùa khô), khi nước trong bàu đã cạn và khi các loài thủy sản cũng đủ lớn có thể khai thác để phục vụ cho các hoạt động của lễ hội, cũng như làm thực phẩm cho các hộ gia đình.\nLễ hội Dua Tpeng là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thể hiện các loại hình diễn xướng dân gian gắn liền với đời sống tinh thần của người Khmer xã Lộc Khánh, huyện Lộc Ninh nói riêng và cộng đồng người Khmer Bình Phước nói chung. Lễ hội Dua Tpeng còn thể hiện văn hóa ứng xử với môi trường sống, môi trường tự nhiên của con người với cách khai thác nguồn lợi lâu dài, bền vững, là nơi bảo tồn các công cụ đánh bắt truyền thống của người Khmer. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-hoi-dua-tpeng-pha-bau-cua-nguoi-khmer-3196"},{"_id":46,"#":46,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Gầu Tào của người Mông ","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012;2020","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Mông","Địa điểm":"Tỉnh Lào Cai, Tỉnh Hà Giang; Lai Châu (huyện Phong Thổ, huyện Sìn Hồ, huyện Tam Đường)","Mô tả":"Lễ hội Gầu Tào là lễ hội truyền thống của người Mông và được cộng đồng dân tộc Mông thuộc các huyện Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai và thị trấn Phong Hải, tỉnh Lào Cai  và ở Hà Giang gìn giữ từ xưa đến nay. Thông thường, khi một gia đình người Mông không có con, ít con hoặc sinh con một bề hay có người ốm đau hoặc làm ăn không tốt…, họ sẽ lên đồi Gầu Tào khấn xin thần linh ban cho con cái, cầu xin sức khỏe hay làm ăn thuận lợi. Khi lời cầu khấn trở thành hiện thực, họ làm lễ Gầu Tào để tạ ơn thần linh. Theo tập quán, lễ hội Gầu Tào thường do ba gia đình có quan hệ huyết thống hoặc thông gia với nhau và có hoàn cảnh như nêu trên cùng tổ chức. Lễ hội được tiến hành vào mùa xuân trong ba năm liền - mỗi năm người ta trồng một cây nêu để ba gia chủ sẽ lần lượt lấy cây nêu và những vật treo trên cây về để lấy phúc, lấy lộc. Địa điểm làm lễ Gầu Tào được gọi là Hấu Tào (Đồi Hội), là một quả đồi thấp, đỉnh bằng phẳng tạo nên một bãi rộng và được bao quanh bởi những ngọn đồi cao hơn, phía trước có một không gian trũng, hẹp. Đồi Gầu Tào phải quay theo hướng Đông để cây nêu khi dựng lên đón được ánh nắng mặt trời. Người Mông quan niệm, quả đồi Gầu Tào tượng trưng cho phúc mệnh của gia chủ. Không gian trũng phía trước tượng trưng cho sự đứt gãy, không may mắn; những ngọn đồi phía sau cao hơn tượng trưng cho sự phát triển: con cái hơn cha mẹ, tài lộc ngày càng nhiều.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-hoi-gau-tao-cua-nguoi-mong-o-lao-cai-3158"},{"_id":47,"#":47,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Katé của người Chăm","Quyết định ghi nhận":"2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2017","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Chăm","Địa điểm":"Ninh Thuận","Mô tả":"Katê là lễ hội hàng năm của đồng bào Chăm vào tháng 7 theo lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch) để tưởng nhớ các vị thần mà cũng là những anh hùng dân tộc như Pô Klong Garai, Pô Rôme,...được tổ chức trên một không gian rộng lớn (đền tháp, làng, gia đình), trong khoảng thời gian chừng một tháng.\n","Nguồn":"http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=117455835"},{"_id":48,"#":48,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Khô già già của người Hà Nhì đen","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL\nNgày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Hà Nhì đen","Địa điểm":"Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Lễ hội Khô già già là lễ hội cầu mùa lớn nhất và lâu đời nhất của người Hà Nhì đen ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Hằng năm, cứ vào ngày Thìn đến ngày Thân của tháng 6 âm lịch tức là thời điểm lúa bắt đầu trổ bông, người Hà Nhì đen lại làm lễ cầu mùa với mong muốn thần linh phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân bản có cuộc sống ấm no. Đồng thời cũng là bày tỏ lòng biết ơn thần linh và cầu mong thần linh bảo vệ cho tất cả những người đến tham dự lễ hội, tham gia vào các trò chơi được an toàn. Sau lễ cũng, đồng bào dân tộc tại đây sẽ kiêng không chặt cây, cắt cỏ, băm chặt 3 ngày. Lễ hội thể hiện đặc trưng tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp, thần rừng, thần nước, thần đất và thần tình duyên của cộng động người dân tộc tại đây. ","Nguồn":"https://dangcongsan.vn/van-hoa-vung-sau-vung-xa-bien-gioi-hai-dao-vung-dan-toc-thieu-so/tu-truyen-thong-toi-hien-dai/doc-dao-le-hoi-kho-gia-gia-cua-nguoi-ha-nhi-den-584658.html"},{"_id":49,"#":49,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Lồng tồng Ba Bể","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL\nNgày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn","Mô tả":"Cứ vào mùng 10 tháng Giêng hằng năm, tại thôn Bó Lù, xã Nam Mẫu (Ba Bể) lại tưng bừng diễn ra “Lễ hội lồng tồng Ba Bể”- lễ hội truyền thống cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Hội lồng tồng tại vùng hồ Ba Bể có từ thời xa xưa, gắn với truyền thuyết về sự hình thành hồ Ba Bể và được lưu truyền trong dân gian. Lễ hội Lồng tồng mang đậm tín ngưỡng phồn thực. Mỗi sản vật được dâng lên cúng trời đất đều mang ý nghĩa về sự giao hòa đất trời, là thành quả lao động của những bàn tay cần cù, chịu khó, chắt chiu làm lụng, thể hiện sự cảm tạ trời đất, các vị tiền nhân, thánh thần đã phù hộ, che chở cho nhân dân được thuận lợi và bội thu trong sản xuất, an khang trong đời sống. ","Nguồn":"http://consosukien.vn/da-c-sa-c-le-ho-i-lo-ng-to-ng-ba-be.htm"},{"_id":50,"#":50,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Lồng tông của người Tày","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012; 1852/QĐ-BVHTTDL ngày 08/5/2017; 266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2012; 2017; 2018","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên (huyện Định Hóa); Lào Cai (huyện Văn Bàn)","Mô tả":"Hằng năm, vào dịp đầu xuân  đồng bào dân tộc Tày đều tổ chức Lễ hội Lồng tông (lễ hội xuống đồng). Đây là lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống, được lưu truyền từ lâu đời trong đời sống văn hóa tinh thần và xã hội của người Tày. Đồng bào Tày coi lễ hội Lồng tông là tài sản văn hóa tinh thần vô giá, bởi nó chứa đựng mong ước, niềm tin thiêng liêng, cháy bỏng của mỗi người dân về một cuộc sống yên lành, no đủ, đồng thời cũng chứa đựng đầy đủ những nét tinh túy trong bản sắc văn hóa của người Tày, như: văn hóa ẩm thực, nghệ thuật dân ca, dân vũ,phong tục tập quán, trò chơi dân gian...","Nguồn":"https://tuyenquang.gov.vn/noidung/tintuc/Pages/chi-tiet-tin-tuc.aspx?ItemID=22&l=Dukhach"},{"_id":51,"#":51,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Mừng năm mới của người Giáy","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Giáy","Địa điểm":"Xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang","Mô tả":"Lễ hội Mừng năm mới (Lễ hội múa trống) là sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Giáy, xã Tát Ngà, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán - từ sáng mùng Một đến hết tháng Giêng. Lễ hội Mừng năm mới của người Giáy thường được tổ chức đơn giản, không nặng về hình thức và lễ vật cúng thần. Theo quan niệm của họ, Ông (được thờ trong miếu Ông) và Bà (được thờ trong miếu Bà) chính là Tổ tiên của dân tộc Giáy, đồng thời, cũng là những người che chở, bảo vệ cho con cháu người Giáy. Người Giáy không theo một tôn giáo nào, mà chỉ gửi những lời khấn đến Ông và Bà như là một hình thức cầu tổ tiên phù hộ, che chở. Theo đó, lễ hội chính là dịp để đồng bào mời tổ tiên về chung vui với con cháu và gửi gắm những khát vọng của mình. Ngoài ra, lễ hội cũng là dịp để đồng bào nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động vất vả.  Sáng sớm mùng Một Tết, thầy cúng mặc trang phục chỉnh tề, cùng một số thanh niên khỏe mạnh, chưa vợ, mang một mâm lễ đến cúng tại miếu Bà. Lễ vật gồm: 2 con gà (một trống, một mái), bánh chưng, rượu, hương,... Sau khi miếu được quét dọn sạch sẽ, thầy cúng dán câu đối lên cột, bày mâm lễ xuống đất, rồi thắp hương khấn mời Bà về dự lễ và xin phép Bà cho dân làng hạ trống xuống để tổ chức lễ hội. Trống thần chỉ được đưa ra khỏi miếu Bà một lần duy nhất trong năm. Người Giáy quan niệm, thần trống chính là vị thần đưa tin, những lời khấn của họ muốn đến được với Tổ tiên phải nhờ vào thần trống. Sau khi hạ xuống, trống được đặt cạnh mâm cúng, thầy cúng đọc lời khấn - cầu mưa thuận gió hòa, xin trời đổ nước về cho kịp mùa vụ, con cháu được mạnh khỏe. Sau đó, thầy cúng gõ ba tiếng trống, rồi cắt cử người bưng lễ, khiêng trống. Thầy cúng cầm hương đi trước, dẫn theo đoàn khiêng lễ vật và trống thần đi qua từng nhà trong thôn chúc mừng năm mới. Qua mỗi nhà, lại gõ một hồi trống, thầy cúng lại khấn để cầu mong cho gia đình luôn gặp những điều tốt lành. Gặp đoàn, gia chủ sẽ bưng mâm lễ của nhà mình cùng nhập vào đoàn rước trống. Trống thần càng đi xa, đoàn rước càng dài thêm, đông thêm, vui thêm không khí ngày Tết. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-hoi-mung-nam-moi-cua-nguoi-giay-1050"},{"_id":52,"#":52,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Ná nhèm","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn","Mô tả":"Lễ hội là nghi thức, nghi lễ thờ cúng Thành Hoàng gắn liền với sự tích đánh giặc giữ làng và các hoạt động văn hóa, các trò chơi, trò diễn của người Tày xã Trấn Yên huyện Bắc Sơn. Trong lễ hội các thành viên bôi nhọ lên mặt thể hiện khuôn mặt giặc “Sấc Tài Ngàn” khi còn sống. Đó cũng là quan niệm của đồng bào về linh hồn, thế giới tâm linh. Người tham dự lễ hội phải bôi nhọ mặt bởi họ tin rằng làm như thế sẽ đánh lạc hướng những linh hồn ma giặc, qua lễ hội sẽ không còn ma nào biết ai đã diễn lại hình dạng và sự thất bại của chúng trước dân làng mà bắt về gây tai họa, dịch bệnh cho họ cùng gia đình, người thân của họ. Lễ hội Ná Nhèm diễn ra vào ngày 15 tháng giêng (âm lịch) nhưng các công việc chuẩn bị đã được tiến hành triển khai thực hiện từ trước đó khoảng 2 tuần. Cùng với các hoạt động nghi lễ trong Lễ hội Ná Nhèm còn có rất nhiều trò chơi trò diễn đặc sắc như:  Trò đánh trận tập và tiến cống lễ vật, Sau trò này trong lễ hội Ná Nhèm còn tổ chức them trò Trò Sỹ – Nông – Công Thương; Ngư – Tiều – Canh – Mục ( kén dâu, kén rể); đánh đu, đánh cờ… nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, giao lưu văn hóa của cộng đồng.","Nguồn":"http://dulichlangson.com.vn/?p=580"},{"_id":53,"#":53,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Nàng Hai (Cầu Trăng) của người Tày Ngạn","Quyết định ghi nhận":"3609/QĐ-BVHTTDL ngày 27/09/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày Ngạn","Địa điểm":"Hà Giang (xã Vô Điếm, huyện Bắc Quang)","Mô tả":"Lễ hội Nàng Hai là nét văn hóa độc đáo, đặc sắc của tộc người Tày Ngạn. Lễ hội thường diễn ra vào dịp Rằm tháng Giêng hoặc Tết Trung thu; toàn thể con, cháu cùng đến đền thờ cầu mẹ Trăng, cầu cho mưa thuận gió hoà, cây cối xanh tốt, con cháu chăm ngoan khoẻ mạnh, người già khoẻ thọ trường. Đặc biệt, trong bài ca cúng tế thần Mặt trăng có bài “Mổ Lùng Hai” hay còn gọi là (Nàng Hai) với nội dung mời thần Mặt trăng xuống trần gian để bà con được trình bày về những việc đã làm trong năm, những diễn biến của thiên nhiên đối với đời sống lao động sản xuất, đồng thời bày tỏ tâm tư, nguyện vọng với Nàng Hai cầu xin mưa thuận, gió hòa; xua đuổi thú giữ phá phách, nhốt chặt những con sâu, con bọ có hại, xin tiếp những hạt giống tốt để mùa màng trong năm tới bội thu; người người xin tránh được những tai ương, bệnh tật, giải trừ những nỗi oan ức, uẩn khúc trong cộng đồng. Đồng thời, thông qua các bài ca, nghi lễ - nghệ nhân thay mặt nhân dân trong thôn hỏi Nàng Hai về những biến cố năm tới có thể xảy ra để cùng nhau biết trước, có biện pháp đề phòng, đảm bảo cuộc sống. Thần Mặt trăng xuống trần gian theo lời mời của nghệ nhân và nhập vào Nàng Chổi (còn gọi là Nhù Quét) để nghe sự dãi bày. Khi thần Mặt trăng nhập vào Nàng Hai trên giàn cúng, nếu gia đình nào trong thôn có hiện tượng mất trộm, mất cắp lớn mà muốn tìm thì Nàng Chổi sẽ chỉ hướng và giúp tìm lại được...","Nguồn":"http://baohagiang.vn/van-hoa/201909/le-hoi-nang-hai-trong-doi-song-dong-bao-tay-ngan-750480/"},{"_id":54,"#":54,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Nàng Hai của người Tày","Quyết định ghi nhận":"2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2017","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Cao Bằng (xã Tiên Thành, huyện Phục Hòa)","Mô tả":"Lễ hội Nàng Hai, hay còn gọi là Mẹ Trăng, của người Tày ở Cao Bằng là một trong những lễ hội dân gian truyền thống, mang đậm tín ngưỡng phồn thực của người Việt cổ. Lễ hội này được sáng tạo từ chính cuộc sống sinh hoạt và lao động sản xuất của người nông dân miền núi. Lễ hội được bắt đầu vào tháng Giêng và kéo dài đến trung tuần tháng Ba. Theo tín ngưỡng dân gian dân tộc Tày, trên cung trăng có Mẹ Trăng và mười hai nàng tiên, là các con gái của Mẹ. Mẹ cùng các nàng hằng năm chăm lo bảo vệ mùa màng cho dân chúng ở trần gian. Hội Nàng Hai được tổ chức với ý nghĩa tượng trưng các mẹ các nàng ở dưới trần gian hành trình lên trời đón Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống thăm trần gian và giúp trần gian trong công việc làm ăn để sinh sống.","Nguồn":"https://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/le-hoi-nang-hai-tin-nguong-dac-sac-cua-nguoi-tay-o-cao-bang-310054.vov"},{"_id":55,"#":55,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội nhảy lửa của người Pà Thẻn","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Pà Thẻn","Địa điểm":"Xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang","Mô tả":"Nhảy lửa (Cầu lửa) là lễ hội truyền thống của người Pà Thẻn tại thôn My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang, thường được tổ chức vào ngày 16/10 (Âm lịch) hàng năm khi mùa màng đã thu hoạch xong. Đây là một lễ hội độc đáo, đậm nét Shaman giáo, sơ khai và huyền bí. Theo truyền thống, Nhảy lửa gắn liền với lễ truyền nghề thầy cúng - được tổ chức cho các thầy cúng nhận học trò và truyền nghề. Lễ hội không chỉ phản ánh vai trò và địa vị của những người thầy cúng trong xã hội trước kia, mà còn là bằng chứng thể hiện những yếu tố văn hóa, tín ngưỡng nguyên thủy sơ khai, niềm tin vào thế giới thần linh và những thế lực siêu nhiên. Trước khi vào lễ nhảy lửa, thầy cúng sắm lễ, thắp hương tế cáo trời đất, tổ tiên rồi bắt đầu đọc các bài cúng như những câu thần chú. Nội dung các bài cúng là mở đường lên trời, báo cáo với Thần Lửa, tế cáo linh hồn của tổ tiên để mời về nhập vào những người tham gia nhảy lửa (học trò của thầy cúng, chủ yếu là nam giới). Sau tiếng nhạc nổi lên, cùng với lời gọi của thầy cúng, cơ thể của các chàng trai bắt đầu rung lên, ánh mắt khác lạ, đầu lắc đi, lắc lại, như được các thần linh nhập vào, họ lao vào nhảy múa giữa đống lửa đang đỏ hồng, với bàn chân trần và dùng tay bốc than tung lên, ánh than phủ kín một màu đỏ rực xung quanh người nhảy, có người còn cho than hồng vào mồm nhai. Khi một người nhảy xong lao từ trong đống than hồng ra, thì lại có một người khác tiếp nối, cũng có khi hai, ba người cùng vào nhảy một lúc. Họ vẫy vùng trong ánh lửa hồng rực trước sự reo hò, khích lệ của người xem như không hề cảm thấy sức nóng của than hồng. Khi lửa tàn hẳn, thầy cúng sẽ đọc bài cúng tiễn các ma về trời, lúc này các học trò của thầy mới dần tỉnh lại. Điều kì lạ nhất là họ không thấy đau  đớn và cũng không hề bị bỏng. Lễ hội kết thúc, thầy cúng đọc bài cúng cảm ơn các vị thần đã xuống góp vui cho dân làng, cầu mong các vị thần phù hộ cho dân làng được ấm no, mạnh khỏe, hẹn lần nhảy lửa sau sẽ lại mời các thần xuống tham gia.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-hoi-nhay-lua-cua-nguoi-pa-then-1041"},{"_id":56,"#":56,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Tỉnh Trà Vinh","Mô tả":"Lễ hội Ok- om- bok hay còn gọi là lễ cúng trăng, được tổ chức định kỳ đúng vào ngày rằm tháng 10 Âm lịch hàng năm. Đây là một trong ba lễ chính hàng năm của tộc người Khmer Nam bộ, gồm: Tết cổ truyền Chôl- Chhnam- Thmây, Sêne Đolta và Ok- om- bok. Theo truyền thuyết, nhằm ghi nhớ và tạ ơn mặt trăng vốn được người Khmer coi như một vị thần điều động mùa màng, mưa nắng trong năm giúp họ ấm no, hạnh phúc, lễ cúng trăng được tiến hành như sau: đúng vào đêm rằm tháng 10 Âm lịch, trước khi trăng lên đỉnh đầu mọi người trong phum sóc tập trung tại khuôn viên chùa hay khuôn viên nhà - nơi không có bóng cây che khuất mặt trăng. Tại đây, họ xây dựng một cái cổng (hai trụ thường làm bằng trúc) có trang trí hoa lá, dưới cổng đặt 1 cái bàn đặt các sản vật như: chuối, dừa, khoai, cốm dẹp (sản vật cúng trăng tùy theo khả năng của mỗi gia đình nhưng không thể thiếu cốm dẹp). Khi trăng lên cao tỏa sáng, người chủ lễ (cụ già) bắt đầu thắp nhang, nến, rót trà khấn vái nói lên lòng biết ơn của họ đối với vị thần mặt trăng, cầu cho mưa thuận gió hòa, phum sóc bình yên, mọi người khỏe mạnh…Cúng xong người chủ lễ ngồi chắp tay hướng về mặt trăng, lấy cốm dẹp và các vật cúng khác mỗi thứ một ít đút cho con cháu, tay còn lại đấm nhẹ vào lưng con cháu và hỏi những ước nguyện của con cháu họ... ","Nguồn":"http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=Print&mid=3944"},{"_id":57,"#":57,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Phài Lừa","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Tày, Nùng","Địa điểm":"Lạng Sơn (xã Hồng Phong, huyện Bình Gia)","Mô tả":"Lễ hội Phài Lừa – Bơi bè ở vùng Văn Mịch huyện Bình Gia, là một lễ hội độc đáo hội tụ đầy đủ các yếu tố truyền thuyết, tín ngưỡng  văn hóa và tinh thần thể thao, thượng võ. Lễ hội Bưa lừa được tổ chức vào ngày 4 tháng 4 âm lịch của năm nhuận (tức là 3 năm tổ chức 1 làn) tại đình Bà, thôn pò Kù, đình Ông ở phố Văn Mịch và đua bè trên đoạn sông trước đình Ông. Xuất phát từ truyền thuyết, Lễ hội Phài Lừa được tổ chức với ý nghĩa đón thần Rắn trở về Văn Mịch thăm bố mẹ và bà con dân bản, để luôn nhớ công ơn và thán phục cái sức mạnh phi thường cùng với ý chí, quyết tâm cao độ đã dũng mãnh tiêu diệt toàn bộ lũ Thuồng luồng độc ác kia. Đua thuyền đây chính là để chào đón, để tưởng nhớ ngày rắn xuống sông đánh nhau với Thuồng luồng giữ yên cuộc sống cho dân bản. Trước ngày đua thuyền các thân bản chuẩn bị việc chọn thuyền là những nghệ nhân nghề mộc trong vùng. Tiếp theo là việc tuyển chọn các tay đua là nam giới, không phân biệt tuổi tác, có sức khỏe tốt, có kinh nghiệm bơi thuyền và điều quan trọng nhất là người đó không làm những việc xấu việc trái với thuần phong mỹ tục của dân bản. Lễ hội diễn ra cả ngày với các nghi thức trang nghiêm, các trò chơi hấp dẫn thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Sau phần lễ là hội đua thuyền. Dân bản kéo xuống tập trung hai bờ sông để chứng kiến cuộc đua tài và cổ vũ cho thuyền mà mình hâm mộ. Cũng trong ngày hội hát Sli, hát lượn của các nhóm thanh niên nam, nữ Tày – Nùng được diễn ra hết sức tự nhiên nhất là vào ban đêm","Nguồn":"http://dulichlangson.com.vn/?p=577"},{"_id":58,"#":58,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Quỹa Hiéng (Lễ hội qua năm) của người Dao đỏ","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang","Mô tả":"Lễ hội Quỹa Hiéng (còn gọi là lễ hội qua năm) của dân tộc Dao đỏ ở xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang thể hiện ước nguyện hướng về một cuộc sống no đủ, giàu có, bình an của dân làng, cũng như biểu hiện lòng sùng kính tổ tiên và thể hiện nguyện vọng về một cuộc sống thái bình thịnh vượng. Lễ hội Quỹa Hiéng được tiến hành vào những ngày cuối cùng của năm cũ tại các gia đình người Dao. Để tiến hành buổi lễ, các thầy cúng (còn gọi là Sài ông) cùng gia đình lập 3 đàn lễ. Đàn lễ thứ nhất gọi là Bứa Hiéng (tức bàn thờ tổ tiên tông tộc). Đàn lễ thứ hai là Sáng chà phin (tức đàn cúng thế giới thần linh và các ma là tổ tiên của nghề thầy cúng gọi là Sài Tía). Đàn lễ thứ 3 gọi là Sám háng (tức là mâm cúng các ma là linh hồn của những người khi sống không nhà không cửa). Lễ vật dâng cúng là những sản vật nông lâm nghiệp được chính các hộ gia đình trong bản nuôi trồng chế biến như thịt gà, cơm, rượu, các loại bánh, hương tiền, đèn nến. Trong các bài khấn, thầy cúng kể chuyện về sự hình thành trời đất vũ trụ với bốn mùa: xuân - hạ - thu - đông, kể về sự ra đời, phát triển của loài người trong đó có các tộc họ người Dao xã Hồ Thầu. Kể lại và tỏ lòng biết ơn những người đã có công giúp người Dao đỏ chống lại ma tà quỷ dữ, bảo vệ cuộc sống… Lễ hội cũng là dịp để con cháu người Dao cúng tế thế giới thần linh, cúng các loại ma đến dự lễ, cầu mong các thần ma phù hộ cho con cháu làm ăn gặp nhiều may mắn. Một việc không thể thiếu trong Lễ hội Quyã Hiéng của dân tộc Dao xã Hồ Thầu, là lễ xuất hành được thực hiện vào buổi sáng ngày đầu tiên của năm mới. Thầy cúng chọn giờ tốt và hướng tốt để xuất hành trong ngày đầu năm, nhằm đem lại nhiều tài lộc may mắn cho cả năm, tránh mất mùa đói kém. Vào ngày này, mọi người mặc những bộ quần áo mới và chỉ nói những lời tốt đẹp, để cả năm được hòa thuận hạnh phúc. Khi xuất hành, mỗi người mang một dụng cụ lao động như cày, cuốc, dao, xô chậu đựng nước làm các hoạt động đầu năm để lấy may mắn.","Nguồn":"https://dantocmiennui.vn/le-hoi-quya-hieng-cua-nguoi-dao-do/47948.html"},{"_id":59,"#":59,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ hội Roóng Poọc của người Giáy","Quyết định ghi nhận":"3820/QĐ-BVHTTDL\nNgày 31/10/2013","Năm được ghi nhận":"2013","Loại hình di sản":"Lễ hội truyền thống","Dân tộc":"Giáy","Địa điểm":"Xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Lễ hội Roóng Poọc (Xuống đồng) của người Giáy là dịp kết thúc một tháng Tết vui chơi, đồng thời mở đầu cho một chu kỳ sản xuất, một mùa vụ mới. Đây còn là dịp cúng thần cai quản địa bàn (Thổ địa) để cầu cho ngô lúa tốt tươi, chăn nuôi phát triển, xóm làng bình yên, mọi người khỏe mạnh,…Lễ hội Roóng Poọc thuộc loại hình lễ hội nông nghiệp, phản ánh một phần lịch sử sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước của người Giáy qua tín ngưỡng: phồn thực, đa thần, thờ mặt trời,… Lễ hội ra đời và phát triển từ chính cuộc sống lao động, sản xuất của người Giáy ở Tả Van đã hàng trăm năm nay, nên nó mang tính lịch sử và nhân văn sâu sắc. Đây là sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang tính chất tâm linh, kết hợp với diễn xướng dân gian, từ nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật trình diễn dân gian và các trò dân gian,… gắn liền với đời sống tinh thần người Giáy xã Tả Van, huyện Sa Pa nói riêng và cộng đồng người Giáy tỉnh Lào Cai nói chung.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-hoi-roong-pooc-cua-nguoi-giay-o-xa-ta-van,-huyen-sapa,-tinh-lao-cai-1100"},{"_id":60,"#":60,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Khoi kìm (Cúng rừng) của người Dao đỏ","Quyết định ghi nhận":"3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Theo tiếng địa phương, lễ cúng rừng còn được gọi là lễ Khoi Kìm, được tổ chức hàng năm vào mùng 2 tháng 2 âm lịch tại khu rừng cấm với những quy định rõ ràng như: Không được chặt cây khai thác rừng, không đốt lửa, không được dựng nhà và săn bắn trong khu rừng cấm, không được lấy củi, chăn thả gia súc. Tất cả hành vi xâm phạm đến rừng đều phải nhận hình phạt. Theo quan niệm của người Dao đỏ, lễ cúng được thực hiện để cầu xin thần rừng phù hộ, che chở cho cả thôn bản một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhà nhà bình an, mạnh khỏe, vật nuôi trong nhà lớn nhanh. Đây cũng là dịp để giáo dục người dân nâng cao ý thức bảo vệ những cánh rừng xanh.","Nguồn":"https://vnbusiness.vn/business-song/le-cung-rung-soi-day-tam-linh-cua-nguoi-dao-do-1079301.html"},{"_id":61,"#":61,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Kin Pang Then của người Thái trắng","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015; 2726/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 9 năm 2020","Năm được ghi nhận":"2015;2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Thái trắng","Địa điểm":"Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên; Sơn La (huyện Quỳnh Nhai, huyện Mai Sơn)","Mô tả":"Một trong những di sản đặc biệt được người Thái trắng tỉnh Điện Biên trao truyền đến nay là Lễ Kin Pang Then, tại bản Na Nát, phường Na Lay, thị xã Mường Lay. “Kin” có nghĩa là ăn, ăn mừng; “Pang” là lễ, người dự lễ; “Then” là chỉ các vị thần linh ở Mường Trời.\nLễ Kin Pang Then diễn ra vào dịp đầu xuân (sau Tết Nguyên đán), từ trước rằm tháng Giêng đến trước rằm tháng Ba hàng năm, cứ 3 năm lại tổ chức lớn một lần. Lễ do người làm Then tổ chức để gặp mặt các con nuôi về tạ ơn, mừng mệnh Then, diễn ra từ 3 đến 5 ngày, cũng có thể dài hơn hoặc ngắn hơn tùy thuộc vào số lượng con nuôi nhiều hay ít. Mỗi năm, vào dịp Lễ Kin Pang Then, không chỉ người Thái trắng mà đông đảo các tộc người trong vùng cũng về dự lễ. Người làm Then thường ở trong gia đình có truyền thống làm Then. Ngay từ khi nhập nghề và hành nghề, họ phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện gian khổ, vất vả trong nhiều năm: học khấn, đàn, thuộc hàng ngàn câu hát; biết hát then, hát mạng, hát xao xên theo hành trình lễ hát khấn cầu. Trên thực tế, người làm Then là những người có tài học truyền khẩu các bài thơ, các bài hát, làn điệu trong then, có năng lực ứng tác trong thơ ca, thuần thục phần nhạc đệm của cây đàn tính tẩu.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-kin-pang-then-cua-nguoi-thai-trang-1223"},{"_id":62,"#":62,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ nhảy lửa của người Dao Đỏ","Quyết định ghi nhận":"","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Hà Giang (Xã Thượng Sơn, huyện Vị Xuyên)","Mô tả":"Lễ nhảy lửa là một trong những nghi lễ dân gian đặc sắc của người Dao đỏ Hà Giang. Hiện nay, cộng đồng người Dao đỏ sinh sống ở các huyện Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, Bắc Mê… vẫn lưu giữ được những nét văn hóa dân tộc đậm đà bản sắc, trong đó có lễ nhảy lửa. Đối với người Dao đỏ, lửa là một trong những vị thần linh thiêng gắn bó với tâm linh và đời sống của dân tộc. Lễ nhảy lửa là hoạt động diễn xướng tâm linh minh chứng cho sức mạnh của con người trước tự nhiên, là dịp để tỏ lòng biết ơn trời đất, tổ tiên đã ban cho mùa màng tốt tươi và cầu bình an cho năm mới. Lễ nhảy lửa người Dao đỏ thường được tổ chức vào đầu tháng Giêng để cầu bình an, mùa màng tốt tươi và xua đuổi tà khí. Đây cũng là hoạt động mang tính kết nối cộng đồng cao của người dân tộc Dao đỏ. ","Nguồn":"http://baohagiang.vn/van-hoa/202101/le-nhay-lua-cua-nguoi-dao-do-xa-thuong-son-duoc-cong-nhan-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-771432/"},{"_id":63,"#":63,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Pang Phoóng (Tạ ơn) của người Kháng","Quyết định ghi nhận":"2742/QĐ-BVHTTDL ngày 30/9/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Kháng","Địa điểm":"Điện Biên (xã Rạng Đông, huyện Tuần Giáo)","Mô tả":"Lễ Pang Phoón của người Kháng (xã Rạng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) là lễ tạ ơn tổ tiên, thần linh đã phù hộ cho mọi người trong gia đình, dòng họ luôn được mạnh khỏe, làm được nhiều ruộng nương, lúa gạo, nuôi trâu bò nhanh lớn, công việc làm ăn thuận lợi, phát triển; anh em con cháu trong dòng họ gần gũi nhau, chia sẻ những khó khăn vui buồn, thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết gắn bó; đồng thời nhắc nhở, răn dạy con cháu luôn nhớ về tổ tiên, cội nguồn của dân tộc mình.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-pang-phoong-ta-on-cua-nguoi-khang-33277"},{"_id":64,"#":64,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Pút tồng của người Dao đỏ ","Quyết định ghi nhận":"3820/QĐ-BVHTTDL\nNgày 31/10/2013","Năm được ghi nhận":"2013","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Pút tồng (Tết nhảy) của người Dao Đỏ ở Lào Cai là nghi lễ quan trọng nhất trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của đồng bào. Trong tiếng Dao, “Pút” có nghĩa là nhảy, “tồng” có nghĩa là đồng. Pút tồng vừa là cách thức diễn xướng được thực hiện khi hành lễ và cũng có nghĩa là một nghi lễ thờ cúng tưởng nhớ đến linh hồn tổ tiên của người Dao Đỏ. Người Dao Đỏ tổ chức Pút tồng vào ngày đầu năm mới theo Âm lịch. Diễn trình lễ Pút tồng gồm 11 bước và hầu hết các nghi lễ cúng bái đều được thực hiện thông qua các động tác nhảy, múa. Các điệu nhảy được thực hiện nối tiếp nhau trong suốt tiến trình nghi lễ, phần cầu khấn hầu như được “gói gém” vào trong các điệu nhảy. Trong khi múa, họ luôn miệng xưng tụng thần linh và các điệu múa được sử dụng như hình thức làm hài lòng thần linh, bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với tổ tiên, thần, thánh. Mặc dù múa Pút tồng là hình thức múa trước thần linh, nhưng khi người Dao Đỏ hành lễ, vẫn có sự hướng dẫn của các “Ma Tổ tiên”, “Ma Sư phụ” trong các bước nhảy. Múa trong nghi lễ Pút tồng thường chỉ do nam giới thực hành, như phần nào phản ánh cấu trúc xã hội, gia đình phụ hệ của người Dao Đỏ. Thầy cúng, thầy nhảy đặt ra những quy tắc bí mật để bảo vệ vai trò độc tôn của nam giới trong các nghi lễ. Trong Pút tồng tích hợp cả nghệ thuật trình diễn dân gian, như nhảy múa, âm nhạc, ngôn từ và đặc biệt là nghi lễ, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh, tinh thần của người Dao Đỏ. Các điệu múa là thành tố chủ đạo, tạo nên bản sắc riêng của nghi lễ Pút tồng, tạo sự thông linh giữa người trần và thần thánh, dẫn dắt người Dao Đỏ đi tìm sức mạnh và niềm tin cuộc sống, truyền thống dân tộc,...","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-put-tong-cua-nguoi-dao-do-o-lao-cai-11011"},{"_id":65,"#":65,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ ra đồng \"Pặt oong” của người Pu Péo","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2018","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Pu Péo","Địa điểm":"Xã Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang","Mô tả":"“Lễ Pặt oong” của người Pu Péo ở thôn Chúng Chải, xã Phố Là, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, gắn liền với lịch sử phát triển tộc người của dân tộc Pu Péo. Cứ đến tháng Giêng Âm lịch (từ ngày mùng 5 đến ngày 12 Tết, tùy thuộc vào chủ lễ xem ngày), tất cả người dân trong bản lại có mặt đông đủ để tham gia Lễ Pặt oong (Lễ ra đồng). Pặt tiếng Pu Péo là làm sạch, còn oong là nước, pặt oong có nghĩa là làm sạch nước, là phát nước, phát lửa, đồng thời đuổi những tà ma, điều xấu, những điều không may mắn, xui xẻo ra khỏi nhà, khỏi làng, ra khỏi địa bàn cư trú của người Pu Péo. Hiện nay, lễ Pặt oong được tổ chức ở khu ruộng đầu thôn Chúng Chải, nơi tập trung nhiều các hộ dân Pu Péo sinh sống. Lễ ra đồng với ý nghĩa chào đón điều tốt đẹp cho năm mới, thể hiện mong muốn mưa thuận gió hòa, làng bản yên bình giúp bà con trong bản gặp gỡ, giao lưu chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, phát triển kinh tế. Thực hành nghi lễ góp phần giữ gìn và trao truyền những truyền thống tốt đẹp của ông cha cho thế hệ kế tiếp, góp phần gắn kết cộng đồng, chia sẻ kinh nghiệm trong lao động, sản xuất.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-ra-dong-pat-oong-cua-nguoi-pu-peo-3137"},{"_id":66,"#":66,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Tết nhảy của người Dao Quần Chẹt","Quyết định ghi nhận":"","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao quần chẹt","Địa điểm":"Phú Thọ (huyện Yên Lập)","Mô tả":"Theo quan niệm của đồng bào Dao quần chẹt Phú Thọ, Nhiàng chậm đáo (Tết nhảy) là nghi lễ cúng Bàn vương, luyện binh tướng (âm binh) để cầu mong tổ tiên bảo vệ cuộc sống gia đình, dòng tộc và bản làng. Nhiàng chậm đáo được tổ chức vào tháng 12 âm lịch. Theo tục lệ của người Dao Quần Chẹt, Tết nhảy chỉ được tổ chức tại không gian nhà cái (nhà có bàn thờ tổ tiên của dòng họ).Thời gian tổ chức Tết nhảy của người Dao quần chẹt là vào dịp tháng chạp, trong vòng ba ngày ba đêm. Khoảng cách giữa các lần tổ chức Tết nhảy tùy thuộc vào lời hứa với tổ tiên của từng gia đình, có thể 12,15, 20 hoặc kéo dài tới 30 năm. Tết nhảy đồng thời với Tết Nguyên đán nên sau khi cúng Tết Nguyên đán xong thì sẽ trình báo với tổ tiên để làm Tết nhảy.","Nguồn":"https://vov.vn/van-hoa/nhiang-cham-dao-doc-dao-nghi-le-tet-nhay-cua-nguoi-dao-quan-chet-phu-tho-836287.vov"},{"_id":67,"#":67,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lễ Xăng Khan (Kin chiêng boóc mạy) của người Thái","Quyết định ghi nhận":"3421/QĐ-BVHTTDL ngày 11/9/2017.","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Nghệ An","Mô tả":"Lễ Xăng Khan (Kin chiêng boóc mạy) của người Thái, ở tỉnh Nghệ An, bắt nguồn từ nghi lễ cúng tổ tiên của thầy mo - người có khả năng giao tiếp với thần linh, là cầu nối giữa con người và thần linh. Với khả năng của mình, thầy mo chữa được bệnh cho nhiều người. Người được thày mo chữa khỏi bệnh tự nguyện làm lục mạy, hay lục niệng (con nuôi - con được bảo hộ) của thầy mo. Lễ Xăng Khan là ngày tạ ơn tổ tiên, tạ ơn các pó pu (mo thầy) đã dạy cách bốc thuốc, chữa bệnh và cứu người và tạ ơn thần linh đã phù hộ cho mo cứu chữa cho người bị bệnh. Đây cũng là dịp để những người làm nghề mo đến trổ tài thi nghề, cũng là một lễ thăng bậc của các thầy mo tổ chức nhằm để mọi người biết được hàm bậc của các thầy mo; là dịp các con nuôi đến dự để trả ơn..Lễ Xăng Khan mang đậm giá trị lịch sử, gắn liền với sự hình thành và phát triển của tộc người Thái, là nơi thể hiện những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, mang tính cố kết cộng đồng rất cao của tộc người Thái, đã tạo ra một bản sắc văn hóa riêng biệt không thể lẫn lộn với bất kỳ với một dân tộc nào. Lễ Xăng Khan còn bảo lưu được nhiều nghi lễ, trò diễn dân gian, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống cộng đồng người Thái ở miền Tây xứ Nghệ, là dịp để người Thái thể hiện lòng thành kính, biết ơn đối với các bậc thần linh, tổ tiên và dịp để bà con dân bản tạ ơn công lao của các ông mo - những người đóng vai trò nối kết giữa đời sống thực tại của bản làng và đời sống tâm linh - nơi hiện hữu của thần sông, thần núi, thần rừng và ông bà tổ tiên.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/le-xang-khan-kin-chieng-booc-may-cua-nguoi-thai-3142"},{"_id":68,"#":68,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lượn Cọi của người Tày","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018; 446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019","Năm được ghi nhận":"2018; 2019","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Thái Nguyên (huyện Định Hóa);  Bắc Kạn (Huyện Pác Nặm)","Mô tả":"Là thể loại hát có giai điệu thánh thót, uyển chuyển, trầm bổng, luyến láy nên Lượn cọi rất quyến rũ người nghe. Thực tế, Lượn cọi có thể là một bài dài, hoặc cũng có thể chỉ là một đoạn vài ba câu ngắn; hát đối, cũng có khi tự hát. Hát lượn đòi hỏi người hát phải có chất giọng khỏe, giọng hát hay để chuyển tải được hết những say đắm nồng nàn trong mỗi câu hát, nhằm bày tỏ tình cảm của bản thân với người nghe.","Nguồn":"http://baobackan.com.vn/channel/1042/201911/luon-coi-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dac-sac-cua-dong-bao-tay-5659410/"},{"_id":69,"#":69,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Lượn Slương của người Tày","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Bắc Kạn","Mô tả":"Lượn slương là hình thức hát giao duyên đặc trưng, phổ biến của bà con dân tộc Tày, nhất là những năm 60 thế kỷ XX trở về trước. Chủ thể chính là nam, nữ thanh niên giao lưu tình cảm, quyến luyến tìm hiểu nhau, rồi dẫn đến tình yêu đôi lứa. Ngôn ngữ của lượn slương rất tinh tế, nhẹ nhàng mà sâu lắng, bằng lối so sánh ví von kết hợp với tả thực, lượn slương đã chinh phục được đông đảo công chúng. Khi cất lên thành giai điệu thì lời ca bay bổng diệu kỳ, cuốn hút người nghe, kẻ hát. Giai điệu lượn slương êm ái, dung dị, ngọt ngào cảnh sắc núi rừng quê hương và lòng người da diết yêu thương, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Thể lượn slương sơ khai có lẽ do các văn nhân sáng tác, phổ biến. Về sau các thanh niên nam nữ dù ít học nhưng họ khéo chọn lời, ứng tác nhanh. Đúng như tên gọi, lượn slương (nghĩa là lượn thương) nổi bật lên mục đích bộc bạch niềm thương nhớ nhuốm màu đau thương. Đó là nỗi buồn, nỗi đau cách biệt do cảnh ngộ và một niềm ước ao vô vọng về sự sum họp. Niềm bộc bạch nhớ thương này trong lượn slương đậm hơn rất nhiều nhu cầu giao duyên (tìm hiểu làm quen...) thường thấy ở các làn điệu dân ca giao duyên khác, khiến cho lượn slương nghiêng về phía diễn tả một tình yêu đã nặng sâu hơn là một tình yêu từ chớm hé. Và cách diễn đạt mang đậm sắc màu độc thoại hơn là những dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ đối thoại.","Nguồn":"http://thegioidisan.vn/vi/luon-sluong-cua-nguoi-tay.html"},{"_id":70,"#":70,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Mền loóng phạt ái (Tết hoa mào gà) của người Cống","Quyết định ghi nhận":"446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Cống","Địa điểm":"Điện Biên","Mô tả":"Trong tiếng Cống, Mền loóng phạt ái là Tết hoa mào gà (gọi tắt là Tết hoa). Mền loóng phạt ái của người Cống nhằm tôn vinh, tri ân công đức những người đầu tiên lập bản, người chống chọi với ác thú, trị bệnh cứu người và gần gũi nhất là tổ tiên mỗi gia đình, dòng họ của người Cống. Mền loóng phạt ái của người Cống tại xã Pa Thơm (huyện Điện Biên), xã Nậm Kè (huyện Mường Nhé), xã Pa Tần (huyện Nậm Pồ), tỉnh Điện Biên được tổ chức vào 15, 16 tháng Mười (Âm lịch), gồm có lễ cúng chung cho cả bản do thầy mo chủ trì ở nhà thầy mo và lễ cúng tổ tiên tại gia đình cùng với nghi lễ cầu phúc cho trẻ nhỏ do ông chủ nhà thực hiện. Trước Tết một ngày, các gia đình lên nương chọn hái những bông hoa mào gà đẹp nhất, biểu tượng cho sự may mắn, no đủ, về chuẩn bị lễ vật dâng cúng tổ tiên và trang trí cây hoa chung của bản. Mền loóng phạt ái của người Cống ở tỉnh Điện Biên góp phần khẳng định quá trình tồn tại, phát triển và hình thành bản sắc văn hóa cộng đồng. Mền loóng phạt ái gắn với tín ngưỡng tâm linh của cộng đồng để cầu mùa, cầu phúc, cầu lộc, cầu an đầu năm mới. Vì vậy, Mền loóng phạt ái của người Cống góp phần phản ánh, bảo lưu và trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống, tri thức dân gian; giáo dục thế hệ trẻ có ý thức, trách nhiệm với lịch sử, với văn hóa của dân tộc. Mền loóng phạt ái cũng góp phần cố kết cộng đồng thể hiện qua hành động chung tay chuẩn bị, tham gia nghi lễ và các hoạt động vui chơi.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/men-loong-phat-ai-tet-hoa-mao-ga-cua-nguoi-cong-3126"},{"_id":71,"#":71,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Mo Mường ở Hòa Bình","Quyết định ghi nhận":" 246/QĐ-BVHTTDL ngày 19/01/2016 ","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Mường","Địa điểm":"Hòa Bình","Mô tả":"Mo Mường là một hoạt động diễn xướng văn hóa dân gian đặc sắc trong đời sống tín ngưỡng, nghi lễ vòng đời của người Mường. Các nghi lễ Mo là nghi lễ nhằm cho con cháu lần cuối cùng được báo hiếu cha mẹ và chuẩn bị hành trang cho người chết đi sang thế giới Mường Ma. Ngôn ngữ trong mo là kho từ vựng tiếng Mường với nhiều từ cổ là tài sản, di sản vô giá của dân tộc Mường nói riêng, Việt Nam nói chung. ","Nguồn":"https://baodantoc.vn/hoa-binh-mo-muong-huong-den-tro-thanh-di-san-van-hoa-the-gioi-1641808665073.htm"},{"_id":72,"#":72,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Múa Rom vong của người Khmer ","Quyết định ghi nhận":"4601/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Sóc Trăng","Mô tả":"Múa Rom Vong (hay múa Lâm Thôn) có vị trí quan trọng trong các cuộc sinh hoạt tập thể, gắn với cuộc sống đời thường, gắn với các lễ hội cổ truyền của dân tộc như: Chol Chnam Thmây, Sen Dolta, Ok Om Bok hay trong các nghi lễ tín ngưỡng truyền thống của người dân Khmer. Với người Khmer, nghệ thuật múa Rom Vong có ảnh hưởng rất lớn và có mối quan hệ mật thiết với kiến trúc, hội họa và đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng. Múa thường được biểu diễn ở chùa, nơi tập hợp cư dân trong vùng, nơi diễn ra hầu hết các lễ hội cộng đồng, góp phần đáng kể trong việc nâng cao đời sống tinh thần và phục vụ nhu cầu giải trí của người dân Khmer. Múa Rom Vong là “chất kết dính” gắn kết cộng đồng người Khmer từ bao đời nay, thể hiện sự đoàn kết, tình làng nghĩa xóm. Vào những dịp diễn ra lễ hội, không chỉ đồng bào Khmer múa mà bà con người Kinh, Hoa cùng hòa mình vào điệu múa vui nhộn này, thể hiện sự lan tỏa văn hóa, sự thu hút của điệu múa với tất cả mọi người. Thông qua điệu múa, tình cảm tốt đẹp giữa người với người được gây dựng, trai gái có thể thành đôi. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/mua-rom-vong-cua-nguoi-khmer-tinh-soc-trang-3205"},{"_id":73,"#":73,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Múa Sư tử của người Tày, Nùng","Quyết định ghi nhận":"1852/QĐ-BVHTTDL ngày 08/5/2017","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Tày, Nùng","Địa điểm":"Lạng Sơn","Mô tả":"Múa sư tử được du nhập, tồn tại và phát triển ở Lạng Sơn nói riêng và Việt Nam nói chung trong quá trình di cư hoặc giao lưu văn hóa các tộc người khu vực biên giới. Sau khi du nhập, múa sư tử tiếp biến, giao thoa, dung hợp với các yếu tố văn hóa bản địa, kết hợp nghệ thuật võ cổ truyền, múa dân gian, múa dân tộc… dần biến đổi và từng bước cấu thành, định hình phương thức, cách thức biểu diễn phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng tại địa phương. Trải qua thăng trầm lịch sử, múa sư tử vẫn tồn tại, bảo tồn và phát triển trong đời sống tinh thần của người dân từ thế hệ này sang thế hệ khác và thường được trình diễn trong các ngày: Tết cổ truyền, Lễ hội lồng tồng,.. Múa sư tử của người Tày, Nùng (tỉnh Lạng Sơn) là khát vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp, đồng thời, thể hiện tinh thần đấu tranh của họ chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, xua đuổi tà ma và ác quỷ, cầu mong sự ấm no, hạnh phúc. Các nghi lễ, trò diễn trong múa sư tử thể hiện sự giao hòa giữa trời, đất, nước, đạo lý uống nước nhớ nguồn, cầu mong cuộc sống tốt đẹp, cách ứng xử giữa người với người, người với thiên nhiên và con người với xã hội… Các đạo cụ dùng múa sư tử thể hiện thị hiếu thẩm mỹ, tài năng lao động sáng tạo, của các nghệ nhân, chủ thể văn hóa, phản ánh sinh động nhân sinh quan, thế giới quan, tư tưởng, tình cảm và khát vọng của đồng bào Tày, Nùng đối với thiên nhiên, xã hội và cuộc sống, góp phần gắn kết cộng đồng làng bản hoặc liên làng bản, đặc biệt ở tục kết “lạo tồng” (kết bạn thân).","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/mua-su-tu-cua-nguoi-tay,-nung-1365"},{"_id":74,"#":74,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Múa Tắc Xình của người Sán Chay","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Sán Chay","Địa điểm":"Huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên","Mô tả":"Múa Tắc Xình luôn song hành cùng với tiến trình hình thành và phát triển cộng đồng người Sán Chay ở Việt Nam, tập trung tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đây là nghệ thuật trình diễn dân gian mang tính tâm linh quan trọng trong lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay để tạ ơn trời đất, thần linh đã cho mưa gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi, bản làng no ấm, lúa ngô được mùa và cầu khẩn sự che chở của thần linh cho mùa vụ tiếp theo. Múa Tắc Xình có chín động tác mô phỏng đời sống của người Sán Chay gồm: thăm và dọn đường, bắt quyết, mài dao, đánh dao, phát nương, tra mố, chăm sóc lúa, thu hoạch mùa màng, mừng mùa và trả lễ cho thần linh. Động tác múa và âm nhạc cho múa đơn giản, dễ thực hành, tuy nhiên, những người tham gia Tắc Xình phải là nam giới với chủ lễ là thầy cúng hoặc người múa có kinh nghiệm và kỹ thuật cao. Khi người làm lễ ra hiệu lệnh, hai người tay cầm ống tre nhấc lên cao ngang mặt, một tay cầm cây gõ hai lần liên tiếp vào ống tre tạo nên âm “tắc, tắc”, rồi cầm ống mai đập mạnh xuống đất phát ra tiếng kêu “xình”. Tiếng nhạc gõ liên tục, không ngừng nghỉ, tạo thành nhịp điệu của bước nhảy và âm thanh tạo thành chuỗi “Tắc - tắc - xình, tắc - tắc - xình...”. Trong vòng âm thanh liên hồi đó, những người nhảy thể hiện động tác khỏe mạnh, nhịp nhàng mô phỏng động tác trong các hoạt động lao động sản xuất của người Sán Chay. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/mua-tac-xinh-cua-nguoi-san-chay-o-thai-nguyen-1226"},{"_id":75,"#":75,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Múa Tân’tung Da ’dá của người Cơ Tu","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Cơ Tu","Địa điểm":"Huyện Đông Giang, huyện Nam Giang, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam","Mô tả":"Múa \"Tâng tung da dá\", hay còn gọi là \"Vũ điệu dâng trời\". Đây là điệu múa đặc trưng của người Cơ Tu mang tính tập thể rất cao, là sự kết hợp giữa nam và nữ, giữa âm thanh cồng chiêng cùng với tiếng \"hú\" vang xa, cao vút như nốt nhấn làm mạnh mẽ thêm cho ngôn ngữ múa. Người Cơ Tu thích nhất là \"Tâng tung da dá\", bởi đây là một trong số ít những làn điệu dân ca dân vũ hòa trộn cho thấy sự đoàn kết gắn bó một lòng của đàn ông, thanh niên với đàn bà và thiếu nữ Cơ Tu. Trong không gian bao la của núi rừng, vòng tròn nam nữ thanh niên di chuyển nhịp nhàng sinh động cùng với âm thanh cồng chiêng và các loại nhạc cụ truyền thống khác, luôn ngân dài tan vào vũ trụ như một lời cầu nguyện người Cơ Tu gửi tới đấng thần linh và tổ tiên. Họ tin rằng, thần đất, thần sông, thần suối cho họ cái ăn và Giàng (nghĩa là trời) cho họ cái nghĩ, niềm tin vào sức mạnh để vượt qua, sống mạnh mẽ cùng với nắng gió và núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Vũ điệu dâng trời\" gắn bó mật thiết với cộng đồng, xuất hiện trong nhiều sinh hoạt cộng đồng và các lễ hội lớn của người Cơ Tu như lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, dựng làng, dựng nhà Gươl và nó được trao truyền từ đời này sang đời khác. Không một người Cơ Tu nào xa lạ với điệu múa này. Họ trân trọng và ý thức việc gìn giữ và phát huy loại hình nghệ thuật đặc sắc của dân tộc mình. ","Nguồn":"https://www.bienphong.com.vn/amptang-tung-da-daamp-vu-dieu-dac-sac-cua-nguoi-co-tu-post97705.html"},{"_id":76,"#":76,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Múa trống Chhay-dăm","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Tây Ninh (xã Trường Tây, huyện Hòa Thành)","Mô tả":"Múa trống Chhay-dăm là một điệu múa dân gian độc đáo của người Khmer, thường được biểu diễn trong các ngày lễ hội như Tết Chol Chnam Thmay, lễ Dolta, Ooc - om - boc… Trống Chhay - dăm là loại trống bịt da một mặt, tang trống làm bằng thân cau già đục rỗng ruột. Nhạc cụ phục vụ cho tiết mục múa Chhay - dăm thường có từ 4 - 6 cái trống Chhay - dăm, hai cái Cuôl (chiêng) cùng với Chul (chũm chọe) và Krap (gõ sênh). Để có thể thực hiện các động tác trong bài múa Chhay - dăm, người múa phải có sức khỏe, sự dẻo dai, biết khéo léo kết hợp hài hòa giữa tiết tấu của trống với điệu bộ hình thể. Khi múa, người múa đeo trống trước bụng. Múa trống Chhay - dăm có động tác đánh trống, múa trống và múa tay, lúc múa đơn, lúc múa đôi, múa ba, múa tư và cả múa tập thể. Động tác đánh trống gồm những động tác đơn giản như vỗ lên mặt trống đến phức tạp hơn như đánh bằng cùi chỏ, bằng gót chân hoặc bất ngờ đánh vào trống của nhau, rồi vừa múa vừa làm xiếc với trống.","Nguồn":"https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/18017"},{"_id":77,"#":77,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nau M'Pring (Dân ca) của người M'Nông","Quyết định ghi nhận":"2743/QĐ-BVHTTDL ngày 30/9/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Mnông","Địa điểm":"Đắk Nông (Huyện Tuy Đức, huyện K'rông Nô, huyện Đắk Mil, huyện Đắk Rlấp, huyện Đắk Song, huyện Đắk G'long, huyện Cư Jut, thị xã Gia Nghĩa)","Mô tả":"Dân ca của người M’nông ở Đắk Nông (còn gọi là Nau M’pring), là hình thức diễn xướng dân gian (không có nhạc đệm) được người M’nông sáng tác, sản sinh từ lao động sản xuất, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và được cộng đồng coi là tài sản chung của tộc người. Dân ca M’nông có nhiều thể loại như: Hát ru con, hát đồng dao, hát kể sử thi, hát khóc, hát khấn thần, hát giao duyên, hát múa… Về cách thể hiện thì có 2 hình thức diễn xướng là độc diễn (hát một người) và hát đối đáp: giao duyên nam nữ hoặc những người lớn tuổi với nhau.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nau-m’pring-cua-nguoi-m-nong-3339"},{"_id":78,"#":78,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề Chạm khắc bạc của người Mông","Quyết định ghi nhận":"3820/QĐ-BVHTTDL Ngày 31/10/2013","Năm được ghi nhận":"2013","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Mông","Địa điểm":"Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Chạm khắc bạc là nghề thủ công truyền thống, có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa của người Mông. Trong đời sống hàng ngày, người Mông thường sử dụng bạc như một thứ bùa hộ mệnh có chức năng bảo vệ sức khoẻ, hạnh phúc của con người, nên bạc còn liên quan đến nhiều nghi lễ về tâm linh. Vòng bạc được coi là nơi hội tụ sức mạnh và nơi cư ngụ của thần linh, được thầy cúng phù phép để làm vật phẩm có chức năng là diệt trừ tà ma, bảo vệ sức khỏe cho con người. Trang sức bạc cũng là món quà mang giá trị lớn về tinh thần, do cha mẹ tặng con gái làm của hồi môn khi đi lấy chồng. Chính vì thế, nghề chạm khắc bạc từ bao đời nay vẫn được duy trì để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho đời sống văn hóa của cộng đồng. Việc chạm khắc bạc đòi hỏi sự khéo léo, tỷ mỉ và tính thẩm mỹ cao. Để tạo ra một sản phẩm trang sức bằng bạc, nghệ nhân Mông phải thực hiện qua nhiều công đoạn cầu kỳ để tạo ra sản phẩm mang nét đặc trưng, được cộng đồng ưa chuộng. Nghề chạm khắc bạc thể hiện sự phát triển về kỹ thuật và nghệ thuật kim hoàn của người Mông ở Sa Pa, góp phần phục vụ thiết thực cho đời sống văn hóa, tâm linh của cộng đồng nơi đây. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-cham-khac-bac-cua-nguoi-mong-o-sapa,-lao-cai-1104"},{"_id":79,"#":79,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề Chàng slaw (làm tranh cắt giấy) của người Nùng Dín","Quyết định ghi nhận":"3820/QĐ-BVHTTDL Ngày 31/10/2013","Năm được ghi nhận":"2013","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Nùng Dín","Địa điểm":"Huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai","Mô tả":"Nghề Chàng slaw (nghề thủ công làm tranh cắt giấy) của người Nùng Dín ở Mường Khương, Lào Cai là một nghề đòi hỏi sự tỉ mỉ, công phu và sáng tạo, để tạo ra những sản phẩm nghệ thuật tinh tế phục vụ cho nghi lễ vòng đời của mỗi kiếp người Nùng Dín. Tranh cắt giấy thường được làm và sử dụng khi trong cộng đồng có người qua đời và tổ chức tang lễ. Đây là lễ vật dâng người quá cố, có ý nghĩa như một món quà thể hiện lòng hiếu thảo mà con cháu dành cho cha mẹ, ông bà khi trở về thế giới bên kia. Bộ tranh cắt giấy của người Nùng Dín có nhiều loại. Trong quy trình làm tranh cắt giấy, việc đục tranh là khâu quan trọng, khó và mất nhiều thời gian nhất. Tranh cắt giấy được đục theo hai cách: đục trực tiếp trên khổ giấy hoặc đục theo khuôn mẫu có trước. Về việc phối màu: hiện nay, các nghệ nhân thường kết hợp nhiều màu khác nhau trên cùng một bức tranh, như tím, đỏ, xanh, vàng, đen và trắng. Cách sử dụng màu trên tranh cắt giấy của người Nùng Dín ở Lào Cai có những đặc điểm riêng biệt, từ kỹ thuật pha chế và nhuộm màu cho tới việc phối màu. Các loại tranh cắt giấy do người Nùng sáng tạo và giữ gìn, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phản ánh một phần lịch sử xã hội người Nùng thông qua nghi thức tổ chức tang lễ cho người đã khuất. Đây cũng là những sản phẩm được tạo nên bởi bàn tay khéo léo và óc thẩm mỹ, sáng tạo của những nghệ nhân Nùng Dí, nhằm phục vụ nhu cầu tâm linh của họ. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-chang-slaw-lam-tranh-cat-giay-cua-nguoi-nung-din-o-muong-khuong,-lao-cai-1103"},{"_id":80,"#":80,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề dệt Dèng (thổ cẩm) của người Tà Ôi","Quyết định ghi nhận":"4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Tà Ôi","Địa điểm":"Thừa Thiên Huế (huyện A Lưới)","Mô tả":"Nghệ dệt zèng của người Tà Ôi hình thành từ sớm trong các ngành nghề truyền thống của các đồng bào ở huyện miền núi A Lưới được bảo tồn, lưu truyền cho đến nay. Những tấm zèng (hoặc dèng) là lễ vật hoặc trang phục không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng hoặc các lễ hội quan trọng của đồng bào vùng cao A Lưới. Loại thổ cẩm này được tạo nên từ các nguyên liệu như sợi vải, hạt cườm, lục lạc… Mỗi sản phẩm từ zèng đều in dấu bàn tay tài hoa của người thợ và các nghệ nhân.","Nguồn":"https://thanhnien.vn/nghe-det-zeng-cua-dong-bao-ta-oi-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-post621174.html"},{"_id":81,"#":81,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Cơ Tu","Địa điểm":"Huyện Đông Giang, huyện Nam Giang, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam","Mô tả":"Trong cuộc sống hằng ngày của người Cơ Tu, hình ảnh người phụ nữ bên chiếc khung dệt trở thành một nét văn hóa truyền thống độc đáo. Trải qua nhiều thế hệ, đến nay phụ nữ Cơ Tu vẫn dùng loại khung dệt làm bằng tre, giữ bằng chân, dệt bằng tay - một trong những phương pháp dệt cổ xưa nhất để làm ra các sản phẩm thổ cẩm. Từ phương pháp dệt thủ công, người Cơ Tu có thể dệt được những tấm vải khổ lớn theo ý muốn. Vào tháng 9 hàng năm, bông thu hoạch trên rẫy về, được phụ nữ Cơ Tu se sợi, sau đó sử dụng các chế phẩm thiên nhiên, nhuộm sợi theo các màu mang sắc thái dân tộc để dệt thổ cẩm. Kỹ thuật dệt của người Cơ Tu nổi bật là dệt hoa văn chỉ màu, hoa văn gợn sóng, hoa văn hạt cườm, kỹ thuật khâu đáp. Các hoa văn hạt cườm xếp thành những họa tiết phản ánh đời sống, tín ngưỡng cộng đồng. Cách bố trí từng hạt chì hoặc cườm rất tỉ mỉ và công phu, người thợ vừa dệt vừa tạo hoa văn thật tài tình.","Nguồn":"https://dangcongsan.vn/anh/doc-dao-nghe-det-tho-cam-cua-nguoi-co-tu-451636.html"},{"_id":82,"#":82,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Hrê","Quyết định ghi nhận":"446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019 ","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":" Hrê","Địa điểm":"Quảng Ngãi (Xã Ba Thành, huyện Ba Tơ)","Mô tả":"Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào H’rê ở làng Teng, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, đã tạo nên những sản phẩm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như may trang phục váy, áo cho phụ nữ; khố, áo cho đàn ông; khăn đội đầu, tấm đắp, tấm địu con, túi đựng đồ dùng và các sản phẩm khác làm từ thổ cẩm, là những sản phẩm cần thiết cho sinh hoạt của các gia đình, giữ được nét văn hóa truyền thống và mang lại giá trị kinh tế cho các hộ gia đình làm nghề dệt này. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống còn thể hiện nét văn hóa truyền thống, trí thông minh, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh xảo của người thợ dệt H’rê được lưu truyền từ lâu đời và được bảo tồn, phát triển. Mỗi sản phẩm thổ cẩm của người H’rê làng Teng không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông thường, mà còn là sản phẩm tinh thần để người thợ dệt gửi gắm tài năng, khiếu thẩm mỹ, sự thông minh, sáng tạo, tinh thần lao động của mình. Nghề dệt và sản phẩm dệt truyền thống của người H’rê khẳng định sắc thái văn hóa truyền thống độc đáo của tộc người H’rê ở Quảng Ngãi, thể hiện qua cách tạo hình hoa văn trên sản phẩm dệt thổ cẩm và trang phục truyền thống của người H’rê.","Nguồn":"https://dantocmiennui.vn/nghe-det-tho-cam-cua-nguoi-hre-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia/237833.html"},{"_id":83,"#":83,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề dệt thủ công truyền thống của người Tày","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL Ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Bắc Kạn","Mô tả":"Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến nay nghề dệt thủ công truyền thống của người Tày tỉnh Bắc Kạn vẫn đang được duy trì và phát triển. Trong các bản làng của người Tày, những sản phẩm dệt thủ công truyền thống vẫn hiện hữu, đặc biệt trong các nghi lễ quan trọng như đám cưới, lễ đầy tháng, đám tang,...Người Tày có hai kiểu dệt, dệt trơn và dệt có hoa văn (dệt thổ cẩm). Hoa văn trên mỗi tấm vải dệt của người Tày bắt nguồn từ cuộc sống lao động, gắn bó trong cuộc sống hàng ngày như: Hoa văn hình lá mía dùng làm rèm cửa, tã trẻ em; hoa văn hồ tiêu dùng khi làm khăn quàng; các loại hoa văn dùng khi làm mặt địu, mặt chăn...","Nguồn":"https://backan.gov.vn/Pages/doc-dao-nghe-det-thu-cong-truyen-thong-cua-nguoi-tay.aspx"},{"_id":84,"#":84,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề làm gốm của người Chăm ","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012","Năm được ghi nhận":"2012","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Chăm","Địa điểm":"Xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận","Mô tả":"Nghề làm gốm của người Chăm có từ rất lâu, được các gia đình người Chăm nơi đây duy trì qua nhiều đời. Nghề gốm nơi đây còn bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền thống, được thể hiện qua kỹ thuật chế tác gốm, không dùng bàn xoay, nung lộ thiên, sản phẩm độc đáo mang nhiều dấu ấn lịch sử văn hóa tộc người. Đây là nghề thủ công truyền thống độc đáo, riêng biệt, phản ánh sự đa dạng văn hóa và sự sáng tạo mang tính đại diện, thể hiện bản sắc văn hóa của cộng đồng người Chăm.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-lam-gom-cua-nguoi-cham-o-tinh-binh-thuan-3162"},{"_id":85,"#":85,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề làm trống của người Dao Đỏ","Quyết định ghi nhận":"257/QĐ-BVHTTDL ngày 22/1/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Lào Cai (huyện Sa Pa)","Mô tả":"Nghề làm trống của người Dao đỏ ở Sa Pa được xem là nét văn hóa độc đáo. Trống trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Dao đỏ có vị trí quan trọng. Người Dao đỏ còn có cả sách dạy đánh trống, có thơ bình về trống. Theo phong tục, mỗi gia đình người Dao đỏ đều phải có bộ trống và khèn (gồm một trống và một khèn) để phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa vào những ngày lễ tết, cưới hỏi... Nghề làm trống là nét văn hóa lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong gia đình, dòng họ người Dao đỏ ở Sa Pa.","Nguồn":"https://www.laocai.gov.vn/mDefault.aspx?sid=1365&pageid=2544&catid=69885&id=422230&catname=van-hoa-the-thao&title=nghe-lam-trong-cua-nguoi-dao-do-sa-pa-duoc-vinh-danh-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia"},{"_id":86,"#":86,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghề rèn của người Nùng An","Quyết định ghi nhận":"446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019","Năm được ghi nhận":"2019","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Nùng An","Địa điểm":"Xã Phúc Sen, Quảng Yên, Cao Bằng","Mô tả":"Người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng có nghề rèn lâu đời, hiện vẫn lưu truyền 2 truyền thuyết về nguồn gốc của nghề rèn: thứ nhất, nghề rèn được người Nùng An mang theo khi di dân từ Trung Quốc sang; thứ 2, nghề rèn được kế thừa từ lò rèn đúc vũ khí vào thời nhà Mạc (thế kỷ XVI). Bí kíp gia truyền của rèn Phúc Sen nằm ở khâu dồn sắt để tạo độ cứng cho sản phẩm và khâu tôi sản phẩm. Sản phẩm của nghề rèn Phúc Sen phong phú về chủng loại và kiểu dáng, từ các loại đinh, khuy cho đến dao, búa, cày, cuốc, súng kíp..., trong đó chủ yếu là các công cụ phục vụ cho lao động sản xuất và đời sống sinh hoạt hàng ngày. Có khoảng 30 loại sản phẩm như: các loại dao, búa, rìu, liềm, cuốc, lưỡi cày, bừa, cưa, đục, bào, kéo… phục vụ nhu cầu trong huyện, tỉnh và các tỉnh lân cận như: Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số tỉnh có đồng bào Cao Bằng đi làm kinh tế mới như Lâm Đồng, Gia Lai, Kom Tum, Đắc Lắc, Bình Dương, Bình Phước. Đặc biệt, một số đồng bào vùng ven biên giới Trung Quốc cũng rất ưa chuộng sản phẩm rèn của Phúc Sen. Sản phẩm được tiêu thụ và đặt hàng nhiều nhất đó là các loại dao, búa, lưỡi cuốc, cào cỏ. Nghề rèn được trao truyền theo phương thức cha truyền con nối, thường truyền nghề cho con trai với những bí quyết riêng của từng gia đình.Nghề rèn ở Phúc Sen góp phần làm giàu bản sắc văn hóa truyền thống của người Nùng An với tục thờ Tổ nghề, các giá trị văn hóa liên quan đến bản nghề, thơ ca dân gian, truyện cổ tích. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-ren-cua-nguoi-nung-an-3130"},{"_id":87,"#":87,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật Chầm riêng Chà Pây của người Khmer ","Quyết định ghi nhận":"1524/QĐ-BVHTTDL Ngày 24/4/2013","Năm được ghi nhận":"2013","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh","Mô tả":"Trong kho tàng âm nhạc truyền thống của dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nghệ thuật Chầm riêng Chà Pây là một loại hình nghệ thuật trình diễn độc xướng, đàn và hát dân gian, có nguồn gốc từ rất lâu đời từng được phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng người Khmer ở Trà Vinh vào những thập niên đầu thế kỷ XX, nhưng hiện nay, Nghệ thuật này đang bị mai một dần. Theo tiếng Khmer, cả cụm từ “Chầm riêng Chà Pây” có nghĩa là \"đàn ca\" hay \"ca kể chuyện\". Khi chơi, nghệ nhân thường dựa vào các tích truyện để ứng tác thành những đoạn thơ, chủ yếu thể thơ 4 câu, mỗi câu 7 chữ để hát. Cũng có khi Chầm riêng Chà pây không dựa vào tích truyện nào mà chỉ hát lên những khổ thơ do người nghệ nhân ứng tác tại chỗ, mô tả hiện thực cuộc sống hay thể hiện tâm trạng, mong ước của con người, mang nhiều ý nghĩa giáo dục. Chính vì vậy, ngoài một số bài bản cơ bản, nghệ thuật này phát triển rất đa dạng về nội dung và phong cách thể hiện, có thể trình diễn ở rất nhiều không gian khác nhau, ở mọi nơi, mọi lúc.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-cham-rieng-cha-pay-cua-nguoi-khmer-tinh-tra-vinh-3153"},{"_id":88,"#":88,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật Chiêng Mường ở Hòa Bình","Quyết định ghi nhận":"246/QĐ-BVHTTDL ngày 19/01/2016","Năm được ghi nhận":"2016","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Mường","Địa điểm":"Hòa Bình","Mô tả":"Cồng chiêng của người Mường là nhạc khí dân tộc được coi là biểu tượng của văn hóa Mường, góp một phần quan trọng trong nền văn hóa đa sắc tộc Việt Nam. Cồng chiêng tham gia vào tất cả các hoạt động đời sống người Mường, gắn liền với vòng đời của mỗi người từ khi sinh ra cho đến khi mất đi. Chính vì vậy, người Mường coi cồng chiêng là vật thiêng của mình và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.","Nguồn":"https://congviendisan.vn/vi/cong-chieng-net-dac-sac-trong-doi-song-van-hoa-cua-nguoi-muong-o-hoa-binh"},{"_id":89,"#":89,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật làm gốm truyền thống của người Chăm làng Bàu Trúc","Quyết định ghi nhận":"2459/QĐ-BVHTTDL ngày 20/6/2017 ","Năm được ghi nhận":"2017","Loại hình di sản":"Nghề thủ công truyền thống","Dân tộc":"Chăm","Địa điểm":"Ninh Thuận (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước)","Mô tả":"Làng gốm bàu Trúc Ninh Thuận thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Ngôi làng này là một trong số những ngôi làng cổ bậc nhất ở Ninh Thuận, cũng là ngôi làng nổi tiếng với các sản phẩm gốm thủ công và kỹ thuật nung gốm độc đáo. Gốm Bàu Trúc được ngợi ca là sản phẩm thủ công mang nét đặc trưng không lẫn với gốm nơi khác của tỉnh Ninh Thuận. Nguyên liệu làm gốm của người Chăm làng Bàu Trúc là: đất sét, cát, nước ngọt trong đó đất sét ở làng Bàu Trúc với độ kết dính đặc biệt, một chất liệu đặc biệt để chế tác sản phẩm gốm Bàu Trúc.","Nguồn":"https://dangcongsan.vn/van-hoa-vung-sau-vung-xa-bien-gioi-hai-dao-vung-dan-toc-thieu-so/nghe-gom-co-truyen-cua-nguoi-cham-594342.html"},{"_id":90,"#":90,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật Múa khèn của người Mông","Quyết định ghi nhận":"1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015; 3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015; 1852/QĐ-BVHTTDL ngày 08/5/2017; 266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018","Năm được ghi nhận":"2015; 2017;2018","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Mông","Địa điểm":"Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Giang; Thái Nguyên (huyện Phú Lương, huyện Đồng Hỷ); Sơn La (huyện Mộc Châu)","Mô tả":"Múa khèn (Tang quây) của đồng bào dân tộc Mông thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, đã có từ lâu đời và được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đối với người Mông, khi múa khèn không thể thiếu được loại nhạc cụ do chính họ làm ra, đó là khèn Mông. Với cây khèn độc đáo này, người chơi có thể thổi hơi ra, có thể hít hơi vào. Khèn cũng là đạo cụ múa có cấu tạo phù hợp với dáng khum người và các thế quay, nhảy. Nghệ nhân múa khèn với những bước nhún, bước đảo, bước quay hoặc vừa ôm khèn, vừa lăn mình trên đất tạo nên vũ đạo rất đẹp. Tiếng khèn dường như đã trở thành một phương thức để người Mông chuyển tải, thổ lộ những tâm tư nguyện vọng của mình,...Người Mông thường múa khèn khi có đám tang, đám giỗ hoặc trình diễn trong lễ hội. Hiện nay, múa khèn còn được dùng biểu diễn trong những dịp sinh hoạt văn hóa, văn nghệ tại địa phương.  Nghệ thuật Múa khèn của người Mông còn thể hiện tính cố kết cộng đồng, tinh thần đoàn kết trong đời sống cộng đồng. Tiếng khèn ngấm sâu vào tâm hồn người Mông, thân quen như thắng cố, mèn mén, rượu ngô hay tất cả những gì thân thuộc nhất đã gắn bó với họ từ lúc sinh ra.\nBên cạnh đó, nghệ thuật Múa khèn của người Mông cũng chứa đựng những sáng tạo mang tính khoa học độc đáo, được biểu hiện qua tiết tấu đa dạng, biến hóa khi thổi khèn kết hợp với vũ điệu uyển chuyển, nhịp nhàng khi múa.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-mua-khen-cua-nguoi-mong-3146"},{"_id":91,"#":91,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật Rô băm của người Khmer","Quyết định ghi nhận":"1852/QĐ-BVHTTDL ngày 08/5/2017;446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019","Năm được ghi nhận":"2017; 2019","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Trà Vinh; Sóc Trăng","Mô tả":"Sân khấu Rô-băm ở Sóc Trăng và Trà Vinh được dân gian hóa và bản địa hóa trong môi trường thực hành đặc trưng Nam Bộ Việt Nam trên cơ sở tiếp thu và biến đổi các yếu tố nghệ thuật của ba loại hình sân khấu: lokhon kol (kịch múa mặt nạ do nam trình diễn các tiết mục Reamker và nhạc ngũ âm Pinpeat), Lokhon kbach Boran Khmer và Lokkhon pol Srey (sân khấu mặt nạ do nữ trình diễn với cách xướng dẫn truyện từ bên trong sân khấu). Nghệ thuật Rô-băm phản ánh hiện thực cuộc sống xã hội của người Khmer đương thời; qua nó chúng ta cũng hiểu được phần nào lịch sử xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tộc người Khmer ở Bưng Chông nói riêng. Rô-băm có vị thế quan trọng trong đời sống tinh thần của bà con người Khmer trước đây. Nó vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, vừa mang tính triết lý và giáo dục sâu sắc, do đó có tác dụng không nhỏ đối với sự hình thành phát triển nhân cách, tâm hồn, cốt cách dân tộc và thế ứng xử văn hóa của cộng đồng người Khmer. Từ đó giúp người xem cảm nhận được điều hay lẽ phải, nhận thức được thiện -  ác, chính - tà, định hướng cho con người tự hoàn thiện mình và tiến tới xã hội lành mạnh, tiến bộ, văn minh. Nghệ thuật sân khấu Rô-băm là nền tảng cho các loại hình nghệ thuật khác của người Khmer ra đời và phát triển, điển hình là nghệ thuật sân khấu Dù Kê.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-ro-bam-cua-nguoi-khmer-o-soc-trang-3123"},{"_id":92,"#":92,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật sân khấu Dù kê của người Khmer","Quyết định ghi nhận":"2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Khmer","Địa điểm":"Tỉnh Sóc Trăng","Mô tả":"Sân khấu Dù kê là tổng hòa các loại hình nghệ thuật, như: ca, múa, âm nhạc, vũ thuật, phục trang, hóa trang, hội họa và ẩm thực... mang đặc trưng riêng của người Khmer. Nghệ thuật sân khấu Dù kê vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, vừa giúp người xem cảm nhận được điều hay lẽ phải, nhận thức được thiện - ác, chính - tà, định hướng cho con người tự hoàn thiện mình và tiến tới xã hội lành mạnh, tiến bộ. Đó là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của cộng đồng người Khmer.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-san-khau-du-ke-1038"},{"_id":93,"#":93,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật tạo hoa văn trên trang phục của người Mông Hoa","Quyết định ghi nhận":"3421/QĐ-BVHTTDL ngày 11/9/2017; 259/QĐ-BVHTTDL ngày 22/01/2020","Năm được ghi nhận":"2017; 2020","Loại hình di sản":"Tri thức dân gian","Dân tộc":"Mông Hoa","Địa điểm":"Xã Sa Lông, Mường Chà, Điện Biên; Mộc Châu, Sơn La","Mô tả":"Nghệ thuật tạo hoa văn trên trang phục của người Mông hoa ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và bản Cổng Trời, xã Sa Lông, huyện Mường Chà đã có từ lâu đời. Kỹ thuật tạo hoa văn trên trang phục được truyền dạy bằng phương pháp truyền khẩu, thực hành trực tiếp, qua trí nhớ của những người phụ nữ lớn tuổi. Các phương pháp tạo hoa văn trên trang phục gồm: thêu, chắp ghép vải, vẽ sáp ong, đính hạt cườm, bạc. Các loại hình hoa văn được trang trí chủ yếu trên các bộ phận trang phục gồm: áo (thân, tay, cổ), trên toàn thân váy, xà cạp, thắt lưng, khăn đội đầu, mũ; ngoài ra còn tạo hoa văn trên địu trẻ em, túi đeo…Hoa văn trên trang phục của người Mông hoa là biểu trưng văn hóa của cộng đồng người Mông, phản ánh những tâm tư, tình cảm của con người, là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá tài năng, sự thông minh và khéo léo của người phụ nữ; chứa đựng yếu tố tâm linh sâu sắc, là vật dẫn đường giúp linh hồn tổ tiên về với cõi vĩnh hằng và ngược lại sẽ giúp tổ tiên nhận ra và về với phù hộ cho con cháu những điều tốt lành; phản ánh điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và thực tiễn đời sống tộc người. Kỹ thuật vẽ sáp ong và hoa văn trên trang phục người Mông thể hiện phong cách riêng biệt, đặc sắc, không hề lẫn với trang trí của các tộc người khác.","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-tao-hoa-van-tren-trang-phuc-cua-nguoi-mong-hoa-tinh-son-la-3255"},{"_id":94,"#":94,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật The (múa) của người Tày ","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL Ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Tày","Địa điểm":"Lào Cai","Mô tả":"Người Tày ở Tà Chải vốn đã nổi tiếng với các điệu múa Xoè (The) độc đáo mô phỏng hoạt động lao động sản xuất, tập quán sinh hoạt của đồng bào Tày nơi đây. Trước kia, điệu múa này chỉ biểu diễn phục vụ gia đình thổ ty Hoàng A Tưởng, quan khách và thống lý các vùng lân cận. Theo phong tục, vào đêm 30 Tết, khi tiếng gà gáy đầu tiên của năm mới vang lên, người làm ở nhà thổ ty ra suối lấy nước mới thì đó cũng là lúc điệu xòe bắt đầu được biểu diễn. Xòe Tà Chải có sự giao thoa, tiếp biến với điệu valse của Pháp. Trong thời gian giúp xây dựng dinh Hoàng A Tưởng (từ năm 1914 đến năm 1921) và ủng hộ sự trị vì của gia đình họ Hoàng, người Pháp đã đưa nhịp điệu của valse vào xòe khiến cho điệu múa này càng tăng thêm tính sôi động, vui tươi. Điều này đã tạo nên nét độc đáo và đặc sắc riêng cho điệu xòe Tày, khác với xòe Mường, xòe Thái. Ngày nay, múa xoè trở thành hoạt động không thể thiếu trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào dân tộc Tày ở Tà Chải. Những điệu xòe được người Tày Tà Chải biểu diễn thường xuyên là xòe chiêng, xòe nghiêng, xòe đôi, xòe đập lúa… có từ thời Pháp thuộc. Ngoài ra còn có một số điệu xòe được cải tiến và sáng tác thêm là xòe nón, xòe mò cá… Những điệu xòe này đã làm nên thương hiệu của vùng đất giàu bản sắc văn hóa trên cao nguyên trắng Bắc Hà đầy thơ mộng.  ","Nguồn":"https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/16930"},{"_id":95,"#":95,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật trang trí hoa văn trên trang phục của người Xá Phó","Quyết định ghi nhận":"4205/QĐ-BVHTTDL ngày 19/12/2014","Năm được ghi nhận":"2014","Loại hình di sản":"Tri thức dân gian","Dân tộc":"Xá Phó - Phù Lá","Địa điểm":"Lào Cai","Mô tả":"","Nguồn":""},{"_id":96,"#":96,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Pa Dí","Quyết định ghi nhận":"2739/QĐ-BVHTTDL ngày 30/9/2020","Năm được ghi nhận":"2020","Loại hình di sản":"Tri thức dân gian","Dân tộc":"Pa Dí - Tày","Địa điểm":"Lào Cai (huyện Mường Khương)","Mô tả":"","Nguồn":""},{"_id":97,"#":97,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Dao Đỏ","Quyết định ghi nhận":"266/QĐ-BVHTTDL ngày 30/01/2018; 446/QĐ-BVHTTDL ngày 29/01/2019; 2738/QĐ-BVHTTDL ngày 30/9/2020","Năm được ghi nhận":"2018; 2019;2020","Loại hình di sản":"Tri thức dân gian","Dân tộc":"Dao đỏ","Địa điểm":"Bắc Kạn (xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn); Tuyên Quang (Huyện Sơn Dương, huyện Hàm Yên, huyện Chiêm Hóa, huyện Na Hang, huyện Lâm Bình); Lào Cai (huyện Sa Pa)","Mô tả":"Nghệ thuật trang trí trên trang phục truyền thống của người Dao Đỏ ở các huyện Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang có từ lâu đời, thể hiện sự tài hoa, tinh tế và thẩm mĩ của người Dao. Nghệ thuật trang trí này gắn với truyền thuyết về con long khuyển mình rồng ngũ sắc, biến thân của Bàn Hộ (tổ tiên của người Dao Đỏ) cứu nước của Bình Vương khỏi sự hủy diệt của Cao Vương. Vì vậy, trang phục cầu kỳ từ cách cắt khâu đến hoa văn, cách tạo hình và đặc biệt là màu sắc trang trí nhất thiết phải có đủ năm màu cơ bản: đỏ, trắng, vàng, xanh, chàm hoặc đen. Y phục của người Dao Đỏ được trang trí với các kỹ thuật khác nhau như: kỹ thuật thêu thoáng trên nền vải, thêu luồn sợi, thắt nút, thêu đột; kỹ thuật đáp, ghép vải tạo hoa văn với mũi khâu giấu không lộ đường chỉ; kỹ thuật phối màu với 5 màu cơ bản: đỏ, xanh, trắng, vàng, chàm; kỹ thuật đính bạc, quả len, tua rua, hạt cườm.\n","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghe-thuat-trang-tri-tren-trang-phuc-truyen-thong-cua-nguoi-dao-do-3124"},{"_id":98,"#":98,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật trình diễn Trống đôi, Cồng ba, Chiêng năm ở Xí Thoại","Quyết định ghi nhận":"3465/QĐ – BVHTTDL ngày 13/10/2015","Năm được ghi nhận":"2015","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Ba Na, Chăm","Địa điểm":"Xã Xuân Lãnh, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên","Mô tả":"Bộ nhạc cụ trống đôi, cồng ba, chiêng năm có một vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc Ba Na và Chăm H’roi ở thôn Xí Thoại nói riêng và cộng đồng người DTTS nói chung ở Phú Yên. Đây cũng là bộ nhạc cụ độc đáo bởi có sự hòa quyện âm điệu, tiết tấu của cả trống đôi, cồng ba, chiêng năm. Khi biểu diễn, âm thanh lại kết hợp với ngôn ngữ hình thể và có mặt trong mọi sinh hoạt văn hóa của đồng bào nên luôn được cộng đồng trân trọng, gìn giữ và phát huy. ","Nguồn":"https://baodantoc.vn/di-san-cua-su-hoa-thanh-doc-dao-32106.htm"},{"_id":99,"#":99,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghệ thuật Xoè Thái","Quyết định ghi nhận":"3820/QĐ-BVHTTDL ngày 31/10/2013; 1877/QĐ-BVHTTDL Ngày 8/06/2015\nNgày 8/06/2015","Năm được ghi nhận":"2013;2015","Loại hình di sản":"Nghệ thuật trình diễn dân gian","Dân tộc":"Thái","Địa điểm":"Điện Biên, Lai Châu, Nghĩa Lộ - Yên Bái, Sơn La","Mô tả":"Nghệ thuật Xòe Thái là loại hình múa truyền thống đặc sắc gắn liền với đời sống của đồng bào Thái vùng Tây Bắc Việt Nam trong các lễ hội cộng đồng, tang ma, các cuộc liên hoan văn nghệ, kết bạn, giao lưu… Các điệu xòe được hình thành từ múa tín ngưỡng trong nghi lễ, cách điệu những động tác trong cuộc sống sinh hoạt, lao động, sản xuất…. Có thể phân loại múa xòe theo ba hình thức chính là xòe tín ngưỡng, xòe giải trí và xòe biểu diễn. Đến nay, người Thái có trên 36 điệu xòe, nhưng tựu chung bắt nguồn từ 6 điệu xòe xòe cổ. Những điệu xòe này không chỉ đơn thuần để biểu diễn, còn mang quan niệm về cách sống, cách nghĩ, nếp sinh hoạt của cộng đồng người Thái bao đời nay. Đó là điệu xòe vòng (xé voóng) - biểu hiện sự đoàn kết gắn bó cộng đồng khi các thành viên nắm tay nhau múa trên một vòng tròn quanh đống lửa. Điệu “khắm khăn mới lảu” (nâng khăn mời rượu) thể hiện tình cảm quý mến khách mỗi khi có khách đến nhà chơi. Điệu “phá xí” (xòe bổ bốn) thể hiện tình đoàn kết, keo sơn, mỗi người dù đi xa bốn phương trời, vẫn tìm đến nhau, giúp đỡ nhau. Điệu xòe “đổn hôn” (tiến lùi) ẩn chứa quan niệm sâu xa, đó là sự tiến lùi theo quy luật cuộc sống, làm chủ được bản thân để có được thành quả như mong muốn. Điệu xòe “nhuôm khăn” (tung khăn) ca ngợi thành quả lao động sáng tạo của người dân. Điệu xòe “ỏm lọp tốp mư” (vòng tròn vỗ tay) thể hiện khát vong chung tay xây dựng bản mường ngày càng giàu mạnh, chung tay chinh phục thiên nhiên và chống lại kẻ thù. Những điệu xòe giống như một xã hội thu nhỏ của người Thái, phản ánh cuộc sống, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng bằng phương thức tư duy ngôn ngữ múa dân gian Thái. Qua những điệu xòe, con người trở nên gần gũi, chan hòa với nhau hơn, đoàn kết, gắn bó hơn. \n","Nguồn":"https://dantocmiennui.vn/nguoi-thai/120052.html"},{"_id":100,"#":100,"Tên di sản văn hoá phi vật thể quốc gia":"Nghi lễ cấp sắc của người Dao","Quyết định ghi nhận":"5079/QĐ - BVHTTDL Ngày 27/12/2012; 3820/QĐ-BVHTTDL ngày 31/10/2013; 2684/QĐ-BVHTTDL Ngày 25/08/2014; 4036/QĐ-BVHTTDL ngày 21/11/2016; ","Năm được ghi nhận":"2012; 2013; 2014; 2016","Loại hình di sản":"Tập quán xã hội và tín ngưỡng","Dân tộc":"Dao","Địa điểm":"Bắc Kạn, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Thái Nguyên","Mô tả":"Người Dao còn bảo tồn nhiều phong tục tập quán truyền thống, đặc biệt là các nghi lễ chu kỳ đời người, trong đó có lễ cấp sắc. Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng, công nhận sự trưởng thành đối với người đàn ông ở tất cả các ngành Dao. Trong lễ cấp sắc, người thụ lễ được đặt pháp danh (tên âm). Sau khi trải qua nghi lễ này, người đàn ông Dao được công nhận là con cháu Bàn Vương, được trao quyền làm thầy, được cấp âm binh và được thờ cúng tổ tiên. Lễ cấp sắc thường tổ chức cho con trai từ 10 tuổi trở lên và thực hiện vào thời gian nông nhàn. Để chuẩn bị lễ cấp sắc, gia đình phải nuôi lợn, tích lương thực, thực phẩm, vàng mã và các thứ khác để làm lễ và cỗ mời bà con, họ hàng...\nLễ cấp sắc của các ngành Dao thực hiện một số nghi lễ, như: lễ nhận thầy; lập ban thờ mới; mời thần linh nhà thầy cúng đi làm lễ; mời thần linh, tổ tiên nhà người được cấp sắc về làm lễ; lễ cấp đèn; lễ đặt tên; lễ dạy làm thầy/truyền phép…Tuy nhiên, mỗi ngành lại có những khác biệt riêng. Lễ cấp sắc là một trong những nghi lễ độc đáo và được lưu truyền từ nhiều đời nay trong cộng đồng dân tộc Dao. Trong lễ cấp sắc, người được cấp sắc và những người tham dự có thể hiểu hơn về lịch sử, cội nguồn của mình từ những bài cúng, tích truyện mà thầy cúng đọc, từ đó, nâng cao ý thức bảo tồn những phong tục, tập quán tốt đẹp của người Dao. Lễ cấp sắc phản ánh đời sống tinh thần phong phú của người Dao, thể hiện qua các điệu múa, hát đối đáp - páo dung, tranh vẽ, hình cắt giấy… Lễ cấp sắc có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào Dao, giúp họ có thêm sức mạnh tinh thần vượt qua khó khăn trong cuộc sống, hướng tới điều tốt đẹp trong tương lai. ","Nguồn":"http://dsvh.gov.vn/nghi-le-cap-sac-cua-nguoi-dao-1326"}], "limit": 100, "_links": {"start": "/api/3/action/datastore_search?resource_id=c2d72eb9-66b6-4502-b902-bf2a94666ec5", "next": "/api/3/action/datastore_search?offset=100&resource_id=c2d72eb9-66b6-4502-b902-bf2a94666ec5"}, "total": 1038, "total_estimation_threshold": null}}